A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de

37 Phẩm Trợ Đạo
bodhipakkhiyasaṅgaha

37 thiện pháp có công năng dẫn đến giác ngộ vốn được chia chẽ và phân nhóm từ Bát Chánh Đạo mà ra. Nghĩa là từng nhóm giác phần trong 37 Giác phần có nội dung tiêu biểu cho cả Bát Thánh Đạo và Đức Phật đã tùy duyên thuyết giảng nhóm nào đó trong các Giác phần để thích hợp với căn cơ với chúng sinh.
  1. TỨ NIỆM XỨ (satipaṭṭhāna)
    Là công phu phát triển chánh niệm y cứ trên 4 đề mục:
    1. Thân Quán Niệm Xứ (kāyānupassanāsatipaṭṭhāna): Lấy Sắc uẩn làm đối tượng ghi nhận.
    2. Thọ Quán Niệm Xứ (vedanānupassanāsatipaṭṭhāna): Lấy Thọ uẩn (vedanākhandha) làm đối tượng ghi nhận.
    3. Tâm Quán Niệm Xứ (cittanupassanāsatipaṭṭhāna): Lấy Thức uẩn và Tưởng uẩn làm đối tượng ghi nhận.
    4. Pháp Quán Niệm Xứ (dhammānupassanāsatipaṭṭhāna): Lấy Tưởng uẩn và Hành uẩn làm đối tượng ghi nhận.

  2. TỨ CHÁNH CẦN (sammappadhāna)
    Là sự nỗ lực nhắm tới mục đích giác ngộ sinh tử. Cần ở đây là tâm sở Cần (viriya) trong 8 tâm Đại thiện (mahākusalacitta), 9 tâm thiện Đáo đại (mahaggatakusalacitta) và 4 tâm Đạo (maggacitta). Tổng cộng là 21 tâm. Kể theo Tạng Kinh thì Tứ Chánh Cần gồm 4 ý nghĩa:
    1. Ngăn ác pháp chưa đến (anuppannākusalapahāna).
    2. Trừ ác pháp đang xuất hiện (uppannākusalapahāna).
    3. Tu tập các thiện pháp chưa có (anuppannakusalabhāvanā).
    4. Phát triển những thiện pháp đã có (uppannakusalabhāvanā).

  3. TỨ NHƯ Ý TÚC (iddhipāda)
    Là 4 pháp nền tảng cho thiền định và Đạo Quả, tức các trí tuệ Đáo đại và Siêu thế. Trên tên gọi thì Tứ Như Ý Túc và Tứ Trưởng giống nhau, nhưng trong chi pháp thì Tứ Như Ý Túc chỉ gồm thiện pháp.
    1. Dục Như Ý Túc (chanda-iddhipāda): Là tâm sở Dục (chanda) trong 21 tâm thiện (kusalacitta).
    2. Cần Như Ý Túc (viriya-iddhipāda): Là tâm sở Cần (viriya) trong 21 tâm thiện.
    3. Tâm Như Ý Túc (citta-iddhipāda): Là 21 tâm thiện gồm 8 tâm Đại thiện, 9 tâm Đáo đại và 4 tâm thánh đạo.
    4. Thẩm Như Ý Túc (vimaṃsā-iddhipāda): Là tâm sở Trí Tuệ (paññā) trong 21 tâm trên.

  4. NGŨ QUYỀN (indriya)
    Gồm 5 yếu tố tâm lý không thể thiếu được trên hành trình giải thoát.
    1. Tín quyền (saddhindriya): Là tâm sở Tín (saddhā) trong 8 tâm Đại thiện, 8 tâm Đại tố và 26 Đổng lực Kiên cố.
    2. Tấn quyền (viriyindriya): Là tâm sở Cần (viriya) trong 42 tâm trên.
    3. Niệm quyền (satindriya): Là tâm sở Niệm (sati) trong 42 tâm trên.
    4. Định quyền (samādhindriya): Là tâm sở Định (ekaggatā) trong 42 tâm trên.
    5. Tuệ quyền (paññindriya): Là tâm sở Trí Tuệ (paññā) trong 42 tâm trên.

  5. NGŨ LỰC (bala)
    Nội dung giống hệt Ngũ quyền. Sở dĩ gọi là Lực vì Đức Phật muốn nhấn mạnh khía cạnh cần thiết của 5 quyền đối với sự tu tập.
    1. Tín Lực (saddhābala).
    2. Tấn Lực (viriyabala).
    3. Niệm Lực (satibala).
    4. Định lực (samādhibala).
    5. Tuệ lực (paññābala).

  6. THẤT GIÁC CHI (bojjhaṅga)
    Có lúc toàn bộ hành trình giác ngộ được kể thành 7 vấn đề:
    1. Niệm Giác Chi (satisambojjhaṅga): Là tâm sở Niệm (sati) trong 8 tâm Đại thiện, 8 tâm Đại tố và 26 Đổng lực Kiên cố.
    2. Trạch pháp Giác Chi (dhammavicayasambojjhaṅga): Là tâm sở Trí Tuệ (paññā) trong 42 tâm trên.
    3. Cần Giác Chi (viriyasambojjhaṅga): Là tâm sở Cần (viriya) trong 42 tâm trên.
    4. Hỷ Giác Chi (pītisambojjhaṅga): Là tâm sở Hỷ (pīti) trong các tâm thọ hỷ rút từ 42 tâm trên.
    5. Tĩnh Giác Chi (passaddhisambojjhaṅga): Là tâm sở Tĩnh Tánh (kāyapassaddhi), Tĩnh Tâm (cittapassaddhi) trong 42 tâm trên.
    6. Định Giác Chi (samādhisambojjhaṅga): Là tâm sở Định (ekaggatā) trong 42 tâm trên.
    7. Xả Giác Chi (upekkhāsambojjhaṅga): Là tâm sở Hành Xả (upekkhā) trong trong các tâm thọ xả rút từ 42 tâm trên.

  7. BÁT CHÁNH ĐẠO (maggaṅga)
    Tức 8 chi phần của Đạo đế được chia thành 3 nhóm theo Tam học.
    1. Tuệ Thánh Đạo (paññāmaggaṅga)
      1. Chánh Kiến (sammādiṭṭhi): Là trí tuệ trong Tam tướng và Nhân quả.
      2. Chánh Tư Duy (sammāsaṅkappa): Gồm 3
        1. Ly dục tư duy (nekkhammasaṅkappa) là những suy nghĩ chán sợ Dục lạc,
        2. Vô sân tư duy (abyāpādasaṅkappa) là những suy nghĩ chan chứa Từ tâm và
        3. Bất hại tư duy (avihiṃsasaṅkappa) là những suy nghĩ có Bi tâm đi kèm.
    2. Giới Thánh Đạo (sīlamaggaṅga)
      1. Chánh Ngữ (sammāvācā): Gồm sự kiêng tránh 4 thứ tà ngữ (nói dối, nói đâm thọc, nói độc ác, nói lời vô ích) và sự nói năng trên những đề tài dẫn đến sự trưởng dưỡng 10 thánh đạo (bát thánh đạo cộng với chánh trí và chánh giải thoát).
      2. Chánh Nghiệp (sammākammanta): Là sự kiêng tránh tất cả thân ác nghiệp.
      3. Chánh Mạng (sammājīva): Là sự kiêng tránh tất cả những sinh kế bất thiện.
    3. Định Thánh Đạo (samādhimaggaṅga)
      1. Chánh Tinh Tấn (sammāvāyāmo): Gồm Tứ chánh cần.
        1. Ngăn ngừa ác pháp chưa đến (anuppannākusalapahāna)
        2. Trừ bỏ ác pháp đang xuất hiện (uppannākusalapahāna)
        3. Tu tập các thiện pháp chưa có (anuppannakusalabhāvanā)
        4. Phát triển những thiện pháp đã có (uppannakusalabhāvanā)
      2. Chánh Niệm (sammāsati): Là sự tu tập Tứ niệm xứ.
      3. Chánh Định (sammāsamādhi): Gồm 3 loại định
        1. sát-na định,
        2. cận định và
        3. kiên cố định (từ sơ thiền đến tầng vô sắc thứ tư) trong quá trình Tam Học.

Aṅguttara Nikāya 8.28 3. Gahapativagga Aṅguttara Nikāya III. Phẩm Gia Chủ
Dutiyabalasutta 8.28. Sức Mạnh (2)
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca: Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:
“kati nu kho, sāriputta, khīṇāsavassa bhikkhuno balāni, yehi balehi samannāgato khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’”ti? Này Sàriputta, có bao nhiêu sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc? Thành tựu với những sức mạnh gì, Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”?
“Aṭṭha, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balāni, yehi balehi samannāgato khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. Katamāni aṭṭha? Bạch Thế Tôn, có tám sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Thành tựu với những sức mạnh gì, Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”. Thế nào là tám?
Idha, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.
Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng các dục ví như hố than hừng. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng các dục ví như hố than hừng. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.
Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ vivekaṭṭhaṁ nekkhammābhirataṁ byantibhūtaṁ sabbaso āsavaṭṭhāniyehi dhammehi. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ vivekaṭṭhaṁ nekkhammābhirataṁ byantibhūtaṁ sabbaso āsavaṭṭhāniyehi dhammehi, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, với tâm thuận xuôi về viễn ly, hướng về viễn ly, thiên về viễn ly, trú ở viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp có thể làm trú xứ cho lậu hoặc. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.
Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno
cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā honti subhāvitā. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā honti subhāvitā, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc,
Bốn niệm xứ được tu tập, được khéo tu tập. Bạch Thế Tôn, vì rằng Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, Bốn niệm xứ được tu tập, được khéo tu tập. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.
Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno
cattāro iddhipādā bhāvitā honti subhāvitā …pe…
pañcindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni …pe…
satta bojjhaṅgā bhāvitā honti subhāvitā …pe…
ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito.
Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc,
Bốn như ý túc được tu tập, được khéo tu tập…
Năm quyền được tu tập, được khéo tu tập…
Bảy giác chi được tu tập, được khéo tu tập …
Thánh đạo tám ngành được tu tập, được khéo tu tập …
Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.
Imāni kho, bhante, aṭṭha khīṇāsavassa bhikkhuno balāni, yehi balehi samannāgato khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’”ti.Bạch Thế Tôn, đây là tám sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, thành tựu với tám sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.

4 Như Ý Túc



Tứ như ý túc nằm trong 37 phẩm trợ đạo: Ngũ căn, Ngũ lực, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Tứ niệm xứ, Thất giác chi và Bát chánh đạo. Đây là những pháp tu tập đưa đến giác ngộ giải thoát; nó xen lẫn trong nhau, tương quan với nhau. Tuy nhiên, khi nói đến những sức mạnh của tâm thì có Ngũ căn, Ngũ lực; khi nói đến những nỗ lực chân chánh để tu tập có hiệu quả thì có Tứ chánh cần; khi nói đến những năng lực vượt trội đưa đến thành tựu mục đích như sở nguyện thì có Tứ như ý túc; khi tu tập minh sát, những thành phần cần phải quán niệm thì có Tứ niệm xứ; khi nói đến những chi phần để giác ngộ thì có Thất giác chi; khi tập trung vào lộ trình tu tập giới định tuệ thì có Bát chánh đạo.

Iddhi có nghĩa là sức mạnh thắng vượt, là khả năng thành tựu hay khả năng đạt đến kết quả viên mãn. Pāda nghĩa đen là cái chân, bàn chân, nghĩa bóng là căn cứ, căn bản, nền tảng. Vậy cả cụm từ có nghĩa là sức mạnh nền tảng, thắng vượt để thành tựu kết quả, đạt được mục đích như sở nguyện – nên ở đâu cũng dịch là như ý túc.

Có 4 như ý túc (Bốn nền tảng tạo nên sức mạnh thắng vượt đưa đến thành tựu như sở nguyện) sau đây:
  1. Dục như ý túc (chandiddhipāda)
  2. Tấn như ý túc (viriyiddhipāda)
  3. Tâm như ý túc (cittiddhipāda)
  4. Thẩm sát như ý túc (vimaṃsiddhipāda)


Tuy nhiên, như vậy cũng chưa đủ, khi tu tập như ý túc, chư hành già còn phải tăng mức độ định và tấn nữa:
  • Tu tập như ý túc cùng với dục định, tinh cần hành.
  • Tu tập như ý túc cùng với tấn định, tinh cần hành.
  • Tu tập như ý túc cùng với tâm định, tinh cần hành.
  • Tu tập như ý túc cùng với thẩm sát định, tinh cần hành.


Bây giờ chúng ta hãy khảo sát từng như ý một, đồng thời nói thêm về dục, về định, về tấn.

  1. Dục như ý túc (chandiddhipāda):

    “Tu tập như ý túc cùng với dục định tinh cần hành”.

    Dục (chanda) nghĩa đầu tiên là ước muốn thuần tuý như muốn làm, muốn ăn, muốn thực hiện một cái gì đó; với nghĩa này thì dục này chưa ẩn chứa thiện, ác; nó trung tính. Nghĩa thứ hai là muốn có được cái gì đó, muốn đạt được một ước nguyện, muốn thành tựu một mục đích chơn chánh nào đó. Tuy nhiên, từ dục, từ chanda thuần tuý này lại có thêm iddhi, tức là thêm năng lực, thêm sức mạnh cho chanda thành chandiddhi thì dục trở thành ước muốn mãnh liệt như dòng thác từ nguồn cao đổ xuống không cái gì có khả năng ngăn giữ được. Cũng vậy, do dục như ý nầy nhất như, bất khuất, kiên định như đá tảng không gì lay chuyển được mà thái tử Sĩ-đạt-ta quăng bỏ vương quyền như đôi dép rách để xuất gia tìm đạo. Như lệnh bà Gotamī cùng mấy trăm công nương Sakyā tự cạo đầu, đắp y, mang bát lê gót chân rướm máu bộ hành 45 do-tuần tìm Phật xin xuất gia. Do vậy, khi định nghĩa dục như ý túc, đức Phật kèm thêm chữ định, gọi là dục định; ngoài ra, ngài còn cho ta biết thêm dục nào là dục chơn chánh nữa:

    “Này các thầy tỳ-khư! Có người tu tập như ý túc cùng với dục định, tinh cần hành, với ý nghĩ: Như vậy, ý muốn ta sẽ không quá thụ động và không quá hăng say; không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài; an trú với trước sau đồng đẳng, dưới thế nào thì trên như vậy, trên thế nào thì dưới như vậy; ban ngày thế nào thì ban đêm như vậy, ban đêm thế nào thì ban ngày như vậy”.

    Kinh cũng giải thích thêm rằng: “Dục thụ động là dục đi đôi với thờ ơ, biếng nhác. Dục quá hăng say là dục bị buông lung, phóng dật chi phối. Dục co rút vào phía trong là dục bị hôn trầm, thụy miên ru ngủ. Dục phân tán ở phía ngoài là dục bị sự lôi cuốn của ngũ trần”.

    Như vậy, dục ban đầu chỉ với nghĩa ước muốn thuần tuý, bây giờ trở thành ước muốn chân chánh ví như muốn làm việc tốt, muốn thành tựu pháp học, pháp hành, muốn tu tập chấm dứt tham sân phiền não. Và ước muốn ấy rất mãnh liệt vì có định và cả tinh cần tăng thêm sức mạnh nữa.

  2. Tấn như ý túc (viriyiddhipāda)

    “Tu tập như ý túc cùng với tấn định tinh cần hành”.

    Tiếp theo là tấn, đôi nơi dịch là cần, đều đúng cả - vì tấn chính là tứ chánh cần. Đây là nỗ lực thường xuyên để làm lành, lánh ác. Tuy nhiên, khi tấn (viriya) có iddhi đi kèm thì tấn này tăng thêm năng lực, sức mạnh với nỗ lực vượt trội hơn nên gọi là viriyiddhi. Thế mà vẫn chưa đủ, viriyiddhi còn tăng cường thêm sức mạnh của định và tinh cần nữa.

    Đây là tâm dính chặt, bám sát với ước muốn mãnh liệt, có mục đích rõ ràng, dứt khoát, không lay chuyển; và cứ nỗ lực kiên trì mãi như thế, kiên trì cho đến lúc thành tựu, đạt kết quả viên mãn. Ví dụ:

    - Những vận động viên bơi lội, điền kinh... mấy phút giây trước khi cán đích, họ đều ráng sức, vận dụng hết sức lực cuối cùng như thế nào thì tấn như ý túc dục định tinh cần hành cũng y như vậy (tuy mục đích khác).

    - Thời Phật Kassapa có 7 vị tỳ-khưu lên một ngọn núi cao, nguyện cùng nhau hành minh sát, nếu không đắc thánh đạo quả thì thà chết chứ không đi xuống núi – là minh chứng cho tấn như ý túc dục định tinh cần hành nầy.

  3. Tâm như ý túc (cittiddhipāda)

    “Tu tập như ý túc cùng với tâm định, tinh cần hành”

    Tâm, citta ở đây chính là tư tác đến mục đích. Tại sao vậy? Vì như ý thứ nhất là dục, là muốn, là mong ước, nhưng muốn, mong ước gì? Như ý thứ hai là cần, là tấn, là nỗ lực nhưng cần, tấn, nỗ lực làm gì, đến đâu, sẽ thành tựu cái gì? Do vậy, tâm chính là mục đích của các như ý. Ví dụ:

    - Hướng đến thành tựu trí tuệ thấy rõ danh, sắc?

    - Hướng đến thành tựu chánh tri kiến?

    - Hướng đến thành tựu tri kiến thoát khổ?

    - Hướng đến thành tựu từ, bi, hỷ hay xả?

    - Hướng đến thành tựu sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền hay 4 vô sắc giới thiền?

    - Hướng đến thành tựu tu tập giới, định, tuệ hay bát đạo chi?

    - Hướng đến thành tựu pháp học?

    - Hướng đến thành tựu thắng trí thần thông?

    - Hướng đến thành tựu tam vô lậu học?…

    Sự hướng đến ấy, cái tâm ấy cần phải tăng cường thêm sức mạnh của định và của tấn nữa. Nghĩa là tâm dính chặt vào mục đích không thối chuyển. Như câu chuyện của tôn giả Ānanda: Cuộc kết tập pháp và luật lần thứ nhất, ba tháng sau khi Phật Niết-bàn, tôn giả Ānanda mới Nhập Lưu, cần phải đắc quả A-la-hán mới được vào dự hội nghị. Thế là suốt đêm ngài hành minh sát. Với dục như ý, với tấn như ý, với tâm như ý… quá dõng mãnh, quá quyết liệt - vì có thêm năng lực định và tấn nên đến gần sáng ngài đã không còn chịu đựng nổi, mỏi mệt quá ngài nghiêng lưng nằm nghỉ. Thế rồi, trong tư thế vừa nghiêng lưng ấy, ngài đắc quả A-la-hán!

    Chuyện gì đã xảy ra. Đấy là do tâm như ý túc có định có tấn đã được đẩy đến tận cùng mục đích thành tựu. Nó đến đích rồi đấy nhưng còn rung động bởi năng lực của dục, của đại hữu vi! Chính khi nghiêng lưng nằm xuống, có nghĩa là buông dục, buông luôn đại hữu vi là ngài đắc quả A-la-hán ngay! Quá dễ hiểu mà!

  4. Thẩm sát như ý túc (vimaṃsiddhipāda)

    “Tu tập như ý túc cùng với thẩm sát định tinh cần hành”.

    Vimaṃsa là một loại trí tuệ nên thường được dịch là tuệ, là quán, là trí… tuỳ theo ngữ cảnh của diễn ngôn. Tuy nhiên, trong nghĩa thẩm sát như ý túc, là như ý thứ tư, nó là loại thẩm sát, nhìn ngắm lại, xem xét lại diễn trình vừa đi qua, đồng thời, quán sát, tư duy khi ở trong thành tựu, mục đích ấy. Một vài ví dụ:

    - Đã thấy rõ danh, sắc rồi… thì thẩm sát chính là xem xét lại có đúng như thế không? Sắc sanh, sắc diệt có đúng như thế không? Và lợi ích của nó là phát sanh tuệ giác nào?

    - Đã thành tựu sơ thiền… thì thẩm sát chính là xem lại các thiền chi nó ra sao, có đúng như thế không? Và sẽ đi lui, đi tới nhiều lần như vậy. Và lợi ích của nó là nhằm để giải thoát cái gì? Ví dụ, sơ thiền là giải thoát 5 triền cái, tứ thiền là giải thoát tầm, tứ, hỷ và lạc!

    - Đã thành tựu thắng trí thần thông rồi… thì thẩm sát chính là xem lại lộ trình đã đi qua như thế nào! Và lợi ích của nó là như thế nào? Đôi khi tự đặt câu hỏi: Thần thông này có giải thoát được tham sân, phiền não hay không?

    - Đã thành tựu vô lậu rồi… thì thẩm sát chính là xem lại pháp giải thoát ấy nó thâm sâu, vi diệu đến mức độ nào?

    Như vậy chúng ta thấy rõ chức năng của thẩm sát như ý túc, nó cũng cần phải có định và tấn nữa mới toàn mãn.


Nói tóm lại, Tứ như ý túc do nằm trong 37 phẩm trợ đạo nên nó cần thiết, và không thể thiếu cho bất kỳ sự tu tập nào, mục đích nào (xem tâm như ý túc) từ cạn vào sâu để cuối cùng là thành tựu giác ngộ, giải thoát.

- Chư thánh nhân A-la-hán tu tập thuần thục Tứ như ý túc thường có nhiều khả năng lãnh đạo đồ chúng.

- Tôn giả Moggallāna tu tập Tứ như ý túc viên mãn đạt 6 thông nên khả năng nhiếp hoá ma vương, long vương… được xem như là đệ nhất của giáo hội chỉ đứng sau đức Phật mà thôi.

- Vị Thánh đệ tử thiện xảo pháp môn này có thể kéo dài mạng sống đến một tiểu kiếp hay phần tiểu kiếp còn lại. Kinh Đại Niết-bàn nói rằng, đức Phật đã gợi ý ba lần về điểm này nhưng tôn giả Ānanda bị ma vương che ám nên không thỉnh ngài trụ thế.

Điều khá quan trọng mà mọi người thường tranh luận về Tứ như ý túc là về chữ dục, trong Dục như ý túc. Ở bình diện thường ngữ, thường nghĩa thì Dục như ý túc có cái gì như đi ngược lại giáo pháp Phật. Ngay ở sơ thiền đã ly dục, ly ác pháp – thì khởi từ dục thì làm sao đưa đến định? Ở đây chúng ta phải hiểu rằng, dục định là lòng mong muốn mãnh liệt rời xa sự cám dỗ của ngũ trần; và cũng mong muốn mãnh liệt như thế để thành tựu mục đích cao cả và tối thượng. Và khi tu tập rồi thì tất cả dục đều được buông bỏ, xả ly, tịnh chỉ. Trong kinh Tương Ưng, có kể chuyện một bà-la-môn đã thắc mắc vấn đề dục định, sợ rằng không phù hợp với mục tiêu của Phạm hạnh. Tôn giả A-nan đã giải thích cho ông ta thấy rằng: “Do trước có lòng dục thúc đẩy, ông đến đây... Do trước có tấn thúc đẩy, ông đến đây... Do trước có tâm thúc đẩy, ông đến đây... Do trước có thẩm sát thúc đẩy, ông đến đây... Sau khi đến đây rồi, dục, tấn, tâm, thẩm sát của ông được tịnh chỉ, cũng vậy, vị A-la-hán thì lòng dục, tấn, tâm, thẩm sát được tịnh chỉ”.

Tứ như ý túc theo nội hàm lý giải ở trên thì các Nikāya rất ít đề cập, nhưng lại nói khá nhiều về Tứ thần túc, nhấn mạnh đến khả năng của những thắng trí. Những chi pháp trong kinh Tăng chi bộ, chỗ 4 pháp thấy bỏ quên Tứ như ý túc. Chỉ có kinh Tương Ưng là nói trọn 37 phẩm trợ đạo. Tứ như ý túc ở đây được nói rõ là dẫn đến định, sau đó, tu tập minh sát để tuần tự đoạn trừ lậu hoặc. Khi tuệ vô lậu xuất hiện thì dục định, tấn định, tâm định, thẩm sát định được tịnh chỉ, ngưng lắng, không còn hoạt dụng nữa.

Trên đây là Tứ như ý túc theo nghĩa kinh điển, áp dụng cho tất cả sự tu tập từ cạn vào sâu, từ thấp lên cao; và cả sử dụng để tu luyện thần thông (sau khi đắc tứ thiền, hành giả lựa chọn một đề mục như đất, nước... rồi sử dụng Tứ như ý túc để luyện các thắng trí, ví dụ đi qua sông, độn thổ...) nhưng nó không thuộc phạm vi bài viết này. Điều cần nói nữa, là trong các sinh hoạt xã hội, làm bất cứ công việc gì, nếu biết áp dụng Tứ như ý túc đều đưa đến thành công, thành tựu, đạt kết quả như sở nguyện.

Nguồn: MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH


A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

© www.tudieu.de