37 thiện pháp có công năng dẫn đến giác ngộ vốn được chia chẽ và phân nhóm từ Bát Chánh Đạo mà ra. Nghĩa là từng nhóm giác phần trong 37 Giác phần có nội dung tiêu biểu cho cả Bát Thánh Đạo và Đức Phật đã tùy duyên thuyết giảng nhóm nào đó trong các Giác phần để thích hợp với căn cơ với chúng sinh.
|
| Aṅguttara Nikāya 8.28 3. Gahapativagga | Aṅguttara Nikāya III. Phẩm Gia Chủ |
| Dutiyabalasutta | 8.28. Sức Mạnh (2) |
| Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca: | Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên: |
| “kati nu kho, sāriputta, khīṇāsavassa bhikkhuno balāni, yehi balehi samannāgato khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’”ti? | Này Sàriputta, có bao nhiêu sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc? Thành tựu với những sức mạnh gì, Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”? |
| “Aṭṭha, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balāni, yehi balehi samannāgato khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. Katamāni aṭṭha? | Bạch Thế Tôn, có tám sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Thành tựu với những sức mạnh gì, Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”. Thế nào là tám? |
| Idha, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. | Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”. |
| Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. | Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng các dục ví như hố than hừng. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng các dục ví như hố than hừng. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”. |
| Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ vivekaṭṭhaṁ nekkhammābhirataṁ byantibhūtaṁ sabbaso āsavaṭṭhāniyehi dhammehi. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ vivekaṭṭhaṁ nekkhammābhirataṁ byantibhūtaṁ sabbaso āsavaṭṭhāniyehi dhammehi, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. | Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, với tâm thuận xuôi về viễn ly, hướng về viễn ly, thiên về viễn ly, trú ở viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp có thể làm trú xứ cho lậu hoặc. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”. |
| Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā honti subhāvitā. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā honti subhāvitā, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. | Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, Bốn niệm xứ được tu tập, được khéo tu tập. Bạch Thế Tôn, vì rằng Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, Bốn niệm xứ được tu tập, được khéo tu tập. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”. |
| Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro iddhipādā bhāvitā honti subhāvitā …pe… pañcindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni …pe… satta bojjhaṅgā bhāvitā honti subhāvitā …pe… ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. | Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, Bốn như ý túc được tu tập, được khéo tu tập… Năm quyền được tu tập, được khéo tu tập… Bảy giác chi được tu tập, được khéo tu tập … Thánh đạo tám ngành được tu tập, được khéo tu tập … Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”. |
| Imāni kho, bhante, aṭṭha khīṇāsavassa bhikkhuno balāni, yehi balehi samannāgato khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’”ti. | Bạch Thế Tôn, đây là tám sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, thành tựu với tám sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”. |
4 Như Ý TúcTứ như ý túc nằm trong 37 phẩm trợ đạo: Ngũ căn, Ngũ lực, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Tứ niệm xứ, Thất giác chi và Bát chánh đạo. Đây là những pháp tu tập đưa đến giác ngộ giải thoát; nó xen lẫn trong nhau, tương quan với nhau. Tuy nhiên, khi nói đến những sức mạnh của tâm thì có Ngũ căn, Ngũ lực; khi nói đến những nỗ lực chân chánh để tu tập có hiệu quả thì có Tứ chánh cần; khi nói đến những năng lực vượt trội đưa đến thành tựu mục đích như sở nguyện thì có Tứ như ý túc; khi tu tập minh sát, những thành phần cần phải quán niệm thì có Tứ niệm xứ; khi nói đến những chi phần để giác ngộ thì có Thất giác chi; khi tập trung vào lộ trình tu tập giới định tuệ thì có Bát chánh đạo. Iddhi có nghĩa là sức mạnh thắng vượt, là khả năng thành tựu hay khả năng đạt đến kết quả viên mãn. Pāda nghĩa đen là cái chân, bàn chân, nghĩa bóng là căn cứ, căn bản, nền tảng. Vậy cả cụm từ có nghĩa là sức mạnh nền tảng, thắng vượt để thành tựu kết quả, đạt được mục đích như sở nguyện – nên ở đâu cũng dịch là như ý túc. Có 4 như ý túc (Bốn nền tảng tạo nên sức mạnh thắng vượt đưa đến thành tựu như sở nguyện) sau đây:
Tuy nhiên, như vậy cũng chưa đủ, khi tu tập như ý túc, chư hành già còn phải tăng mức độ định và tấn nữa:
Bây giờ chúng ta hãy khảo sát từng như ý một, đồng thời nói thêm về dục, về định, về tấn.
Nói tóm lại, Tứ như ý túc do nằm trong 37 phẩm trợ đạo nên nó cần thiết, và không thể thiếu cho bất kỳ sự tu tập nào, mục đích nào (xem tâm như ý túc) từ cạn vào sâu để cuối cùng là thành tựu giác ngộ, giải thoát. - Chư thánh nhân A-la-hán tu tập thuần thục Tứ như ý túc thường có nhiều khả năng lãnh đạo đồ chúng. - Tôn giả Moggallāna tu tập Tứ như ý túc viên mãn đạt 6 thông nên khả năng nhiếp hoá ma vương, long vương… được xem như là đệ nhất của giáo hội chỉ đứng sau đức Phật mà thôi. - Vị Thánh đệ tử thiện xảo pháp môn này có thể kéo dài mạng sống đến một tiểu kiếp hay phần tiểu kiếp còn lại. Kinh Đại Niết-bàn nói rằng, đức Phật đã gợi ý ba lần về điểm này nhưng tôn giả Ānanda bị ma vương che ám nên không thỉnh ngài trụ thế. Điều khá quan trọng mà mọi người thường tranh luận về Tứ như ý túc là về chữ dục, trong Dục như ý túc. Ở bình diện thường ngữ, thường nghĩa thì Dục như ý túc có cái gì như đi ngược lại giáo pháp Phật. Ngay ở sơ thiền đã ly dục, ly ác pháp – thì khởi từ dục thì làm sao đưa đến định? Ở đây chúng ta phải hiểu rằng, dục định là lòng mong muốn mãnh liệt rời xa sự cám dỗ của ngũ trần; và cũng mong muốn mãnh liệt như thế để thành tựu mục đích cao cả và tối thượng. Và khi tu tập rồi thì tất cả dục đều được buông bỏ, xả ly, tịnh chỉ. Trong kinh Tương Ưng, có kể chuyện một bà-la-môn đã thắc mắc vấn đề dục định, sợ rằng không phù hợp với mục tiêu của Phạm hạnh. Tôn giả A-nan đã giải thích cho ông ta thấy rằng: “Do trước có lòng dục thúc đẩy, ông đến đây... Do trước có tấn thúc đẩy, ông đến đây... Do trước có tâm thúc đẩy, ông đến đây... Do trước có thẩm sát thúc đẩy, ông đến đây... Sau khi đến đây rồi, dục, tấn, tâm, thẩm sát của ông được tịnh chỉ, cũng vậy, vị A-la-hán thì lòng dục, tấn, tâm, thẩm sát được tịnh chỉ”. Tứ như ý túc theo nội hàm lý giải ở trên thì các Nikāya rất ít đề cập, nhưng lại nói khá nhiều về Tứ thần túc, nhấn mạnh đến khả năng của những thắng trí. Những chi pháp trong kinh Tăng chi bộ, chỗ 4 pháp thấy bỏ quên Tứ như ý túc. Chỉ có kinh Tương Ưng là nói trọn 37 phẩm trợ đạo. Tứ như ý túc ở đây được nói rõ là dẫn đến định, sau đó, tu tập minh sát để tuần tự đoạn trừ lậu hoặc. Khi tuệ vô lậu xuất hiện thì dục định, tấn định, tâm định, thẩm sát định được tịnh chỉ, ngưng lắng, không còn hoạt dụng nữa. Trên đây là Tứ như ý túc theo nghĩa kinh điển, áp dụng cho tất cả sự tu tập từ cạn vào sâu, từ thấp lên cao; và cả sử dụng để tu luyện thần thông (sau khi đắc tứ thiền, hành giả lựa chọn một đề mục như đất, nước... rồi sử dụng Tứ như ý túc để luyện các thắng trí, ví dụ đi qua sông, độn thổ...) nhưng nó không thuộc phạm vi bài viết này. Điều cần nói nữa, là trong các sinh hoạt xã hội, làm bất cứ công việc gì, nếu biết áp dụng Tứ như ý túc đều đưa đến thành công, thành tựu, đạt kết quả như sở nguyện. Nguồn: MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH |