PHẦN TRÍCH CÚ (Padabhājanīyaṃ)[16] - Thế nào là các pháp thiện? Khi nào có tâm thiện dục giới sanh khởi câu hành hỷ tương ưng trí gặp cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc, cảnh pháp hoặc cảnh chi chi, trong khi ấy- có xúc, có thọ, có tưởng, có tư, có tâm,
- có tầm, có tứ, có hỷ, có lạc, có nhất hành tâm,
- có tín quyền, có cần quyền, có niệm quyền, có định quyền,
có tuệ quyền, có ý quyền, có hỷ quyền, có mạng quyền,
- có chánh kiến, có chánh tư duy, có chánh tinh tấn, có chánh niệm, có chánh định,
- có tín lực, có tấn lực, có niệm lực, có định lực, có tuệ lực, có tàm lực, có úy lực,
- có vô tham, có vô sân, có vô si,
- có vô tham ác, có vô sân ác, có chánh kiến,
- có tàm, có úy,
- có tịnh thân, có tịnh tâm,
- có khinh thân, có khinh tâm,
- có nhu thân, có nhu tâm,
- có thích thân, có thích tâm,
- có thuần thân, có thuần tâm,
- có chánh thân, có chánh tâm,
- có niệm, có tỉnh giác,
- có chỉ tịnh, có quán minh,
- có chiếu cố, có bất phóng dật,
hoặc là trong khi ấy có những pháp phi sắc (tâm sở *) nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện.
Pháp chia theo vị trí: 18 pháp chỉ được kể 1 lần (1 vị trí) là: Xúc, Tưởng, Tư, Tứ, Hỷ, Mạng quyền và 6 cặp Tịnh, Khinh, Nhu, Thích, Thuần, Chánh.
12 pháp được kể nhiều lần gồm:
|