| 1. Dīpaṅkara 2. Koṇḍañña 3. Maṅgala 4. Sumana 5. Revata 6. Sobhita | 7. Anomadassī 8. Paduma 9. Nārada 10. Padumuttara 11. Sumedha 12. Sujāta | 13. Piyadassī 14. Atthadassī 15. Dhammadassī 16. Siddhattha 17. Tissa 18. Phussa | 19. Vipassī 20. Sikhī 21. Vessabhū 22. Kakusandha 23. Koṇāgamana 24. Kassapa |
Đức Phật DīpaṅkaraĐức-Phật Dīpaṅkara xuất hiện trên thế gian vào thời đại con người có tuổi thọ khoảng 100 ngàn năm. Khi ấy, vị đạo-sĩ Sumedha đã chứng đắc các bậc thiền sắc-giới và chứng đắc ngũ thông1 trong tam-giới, vốn là Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác có trí-tuệ siêu-việt đã từng thực-hành các pháp-hạnh ba-la-mật trải qua hai thời-kỳ gồm có 16 a-tăng-kỳ với nguyện vọng muốn trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác trong thời vị-lai. Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác Đạo-sĩ Sumedha đến hầu cúng dường Đức-Phật Dīpaṅkara. Khi ấy, Đức-Phật Dīpaṅkara có trí-tuệ vị-lai kiến-minh (anāgataṃsañāṇa) xem xét thấy Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác đạo-sĩ Sumedha hội đủ 8 chi-pháp được thọ-ký, nên Đức-Phật Dīpaṅkara thọ ký xác định thời gian còn lại rằng: “Trong thời vị-lai, còn 4 a-tăng-kỳ2 và 100 ngàn đại- kiếp trái đất3 nữa, vị đạo-sĩ Sumedha này sẽ trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama.” Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác Đạo-sĩ Sumedha lần đầu tiên được Đức-Phật Dīpaṅkara thọ ký xác định thời gian còn lại 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại-kiếp trái đất nữa chắc chắn sẽ trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama, nên Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác Đạo-sĩ Sumedha vô cùng hoan hỷ. Bắt đầu từ kiếp ấy về sau, Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác chính thức trở thành Đức-Bồ-tát cố-định (niyata-bodhisatta) tiếp tục kiên trì thực-hành bồi bổ 30 pháp-hạnh ba-la-mật suốt 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại-kiếp trái đất nữa, cho đầy đủ và trọn vẹn 30 pháp-hạnh ba-la-mật, để trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama trong thời vị-lai. Đức-Phật Dīpaṅkara thọ 100 ngàn tuổi, rồi tịch diệt Niết-bàn, và giáo-pháp của Đức-Phật dần dần bị mai một hoàn toàn. Về sau, trái đất bị tiêu hoại và sau đó thời gian trải qua 1 a-tăng-kỳ vô số đại-kiếp trái đất thành-trụ-hoại- không mà không có một Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác nào xuất hiện trên thế gian. Những kiếp trái đất ấy gọi là Suññakappa (kiếp trái đất không có Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác xuất hiện), mãi cho đến kiếp trái đất gọi là Sārakappa có một Đức-Phật Koṇḍañña xuất hiện trên thế gian. 1 Ngũ thông trong tam-giới: Đa-dạng-thông, nhãn-thông, nhĩ-thông, tha-tâm-thông và tiền-kiếp-thông. 3 Đại-kiếp: Thời gian trái đất trải qua 4 a-tăng-kỳ thành-trụ-hoại-không, là thời gian quá lâu, Đức-Phật có ví dụ: Một hòn núi đặc hình khối, mỗi chiều một do tuần (khoảng 20 km), cứ 100 năm một chư-thiên lấy tấm vải mịn và mỏng quét nhẹ qua một lần cho đến khi mòn hết hòn núi ấy, thế mà thời gian ấy chưa kể được một đại-kiếp. – Chú ý: A-tăng-kỳ (asaṅkhyeyya) theo thời gian mà Đức-Bồ-tát thực-hành ba-la-mật có nghĩa không thể tính bằng số (vô số) ví dụ 4 a-tăng-kỳ với 100 ngàn đại-kiếp trái đất. 2 A-tăng-kỳ (asaṅkhyeyya): Là khoảng thời gian không thể tính bằng số. Cứ trải qua vô số đại-kiếp trái đất (mahākappa) kể là một a-tăng-kỳ. | |||
Nguồn: Nền Tảng Phật Giáo - Quyển 1: Tam Bảo (Tỳ-khưu Hộ Pháp) - Trung tâm Hộ Tông