93 Đại Đệ Tử Đức Phật

Upasīva ←→ Hemaka

Nanda

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavatthu, con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và bà Mahàpajàpati, vì đem lại hoan hỷ cho bà con nên được gọi là Nanda. Khi đến tuổi trưởng thành, bậc Ðạo Sư chuyển bánh xe pháp đi đến Kapilavatthu, với lòng từ mẫn độ chúng sanh. Nhân có dịp trời mưa, Thế Tôn kể chuyện tiền thân Vessantara. Trong ngày thứ hai, với câu kệ: 'Hãy đứng dậy!'. Thế Tôn giúp cho phụ thân chứng quả Dự lưu. Với câu kệ: 'Hãy sống theo Phạm hạnh'. Thế Tôn giúp bà Mahàpajàpati cũng chứng quả Dự lưu, rồi Thế Tôn giúp phụ thân chứng thêm quả Nhất lai. Ngày thứ ba khi đi khất thực tại phòng đăng quang, lúc mọi người đang chúc mừng hoàng tử Nanda trong ngày lễ đám cưới, bậc Ðạo Sư đưa bình bát, đi theo bậc Ðạo Sư đến tinh xá và đức Phật độ cho Nanda xuất gia, dầu ngài không bằng lòng.
Từ lúc ấy, biết được Nanda không ưa thích đời sống xuất gia, bậc Ðạo Sư tiếp tục giáo hóa cho đến khi Nanda, nhờ thiền định, phát triển thiền quán và đạt được quả A-la-hán. Về sau, hưởng thọ lạc giải thoát, ngài nói: 'Ôi tuyệt diệu thay pháp môn Phật dạy. Nhờ vậy ta thoát khỏi sa lầy vào đầm tái sanh, đứng được trên bãi cát Niết-bàn'. Phấn khởi với suy nghĩ này, ngài nói lên những bài kệ:
157. Không như lý tác ý,
Ta chuyên trang sức ngoài,
Ta thô tháo dao động,
Say đắm trong tham dục.
158. Với phương tiện thiện xảo,
Ta, bà con mặt trời,
Ðược hướng về chánh lý,
Làm ta thoát sanh hữu.
Thế Tôn, biết được quả chứng tự tu, tự luyện của ngài, tuyên bố ngài là bậc tự chế ngự đệ nhất trong các đệ tử của Thế Tôn.


Nanda là con trai của Suddhodana và Mahāpajāpatī, tức là em cùng cha khác mẹ của Đức Phật. Ông chỉ nhỏ hơn Đức Phật vài ngày, và khi mẹ của Đức Phật qua đời, Pajapati đã giao đứa con của mình cho vú nuôi và chính bà bú mớm cho Đức Phật (AA.i.186).
Vào ngày thứ ba trong chuyến viếng thăm Kapilavatthu sau khi Giác ngộ của Đức Phật, Ngài đến nhà của Nanda, nơi đang diễn ra các lễ hội vinh danh lễ đăng quang của Nanda và lễ kết hôn với Janapadakalyānī. Đức Phật chúc Nanda may mắn và trao bát cho ông để mang đến tịnh xá. Sau đó, Nanda tháp tùng Đức Phật ra khỏi cung điện. Janapadakalyānī, thấy chồng mình ra đi, yêu cầu ông nhanh chóng quay lại. Tuy nhiên, khi vào trong tịnh xá, Đức Phật khuyên Nanda xuất gia. Ông không thể từ chối lời thỉnh cầu này nên đã đồng ý một cách miễn cưỡng. Nhưng ngày tháng trôi qua, ông bị dày vò bởi những suy nghĩ về người mình yêu, và trở nên rất chán nản và tuyệt vọng, sức khỏe cũng bị ảnh hưởng. Đức Phật gợi ý rằng họ nên đến thăm Hy Mã Lạp Sơn. Trên đường, Ngài cho Nanda xem xác cháy thành than của một con khỉ cái và hỏi anh ta liệu Janapadakalyānī có đẹp hơn thế không. Câu trả lời dĩ nhiên là có. Sau đó, Đức Phật đưa ông đến Tāvatimsa, nơi Sakka cùng với những tiên nữ xinh đẹp nhất của ông đang chờ đợi họ. Để trả lời câu hỏi của Đức Phật, Nanda thừa nhận rằng những tiên nữ này hấp dẫn hơn nhiều so với Janapadakalyānī. Đức Phật hứa với ông sẽ gả một người vợ như tiên nếu ông chịu sống cuộc sống nhà tu. Nanda rất háo hức và sẵn sàng đồng ý. Khi trở về Jetavana, Đức Phật kể câu chuyện này cho tám mươi đại đệ tử, và khi họ hỏi Nanda, ông cảm thấy vô cùng xấu hổ về sự dâm dục của mình. Thu hết can đảm, ông tinh tấn hành trì và chẳng bao lâu đắc quả A-la-hán. Sau đó, ông đến gặp Đức Phật và nguyện bỏ lời hứa của mình. (Thag.157f.; J.i.91; ii.92ff.; Ud.iii.2; DhA.i.96 105; UdA.168ff.; SNA.273f.)
Khi Đức Phật được một vị trời cho biết về quả vị A-la-hán của Nanda, Ngài kể lại Sangāmāvacara Jātaka để chỉ ra rằng trong quá khứ, Nanda cũng đã nhanh chóng làm theo lời khuyên như thế nào. Ngài cũng kể câu chuyện về Kappata và con lừa để chứng tỏ rằng đây không phải là lần đầu tiên Nanda bị thu phục bởi sự dụ dỗ của giới nữ. Con lừa đực trong câu chuyện là Nanda và con lừa cái chính là Janapadakalyānī. (DhA.i.103f.)
Về sau, khi thấy Nanda đã được rèn luyện xuất sắc như thế nào về khả năng tự kiểm soát, Đức Phật đã tuyên bố ông là người đứng đầu trong số các đệ tử của mình về khả năng đó (indriyesu guttadvārānam). Nanda đã khao khát địa vị cao cả này vào thời Đức Phật Padumuttara. Vào thời Đức Phật Atthadassi, ông là một con rùa ở sông Vinatā, nhìn thấy Đức Phật trên bờ chờ qua sông, ông đã cõng Ngài qua bờ bên kia. (A.i.25; AA.i.174f.; ThagA.i.276ff.)
Người ta cho rằng ông được gọi là Nanda vì sự ra đời của ông đã mang lại niềm vui cho những người bà con của ông. Apadāna (i.57) nói rằng ông có sắc vàng, như phần thưởng cho món quà là một chiếc áo choàng đắt tiền mà ông đã tặng cho Padumuttara. Một trăm ngàn kappa trước đây, ông đã bốn lần lên ngôi vua dưới tên Cela. Sáu mươi ngàn kappa trước đây, ông lại làm vua trong bốn kiếp, dưới tên là Upacela. Sau đó, cách đây năm nghìn kappa, anh ta đã bốn lần là cakkavatti, và tên của anh ta khi đó cũng là Cela.
Nanda rất đẹp trai và chỉ thấp hơn Đức Phật vài phân. Ông đã từng mặc một chiếc áo choàng được làm theo kích thước của chiếc áo choàng của Đức Phật. Phát hiện ra điều này, Đức Phật đã khiển trách anh ta về sự tự phụ của anh ta (Vin.iv.173).
Có lẽ đây là một phiên bản khác của câu chuyện được tìm thấy tại S.ii.281. Ở đó, Nanda được cho là đã mặc một chiếc áo cà sa ép hai bên, vẽ mặt và đến gặp Đức Phật, mang theo một chiếc bát sáng. Đức Phật quở trách ông ta, và Nanda sau đó vào trú trong rừng với y áo rách rưới. Buddhaghosa (SA.ii.174) cho rằng Nanda tự mặc quần áo để gợi lên một lời nhận xét nào đó từ Đức Phật - hoặc là sự chấp thuận để ông ấy có thể ăn mặc như vậy cho đến hết đời - hoặc nếu bị chỉ trích, ông ấy sẽ mặc quần áo rách và ở trong rừng.
Tăng Chi Bộ Kinh (A.iv.166f) có một bài kinh trong đó Đức Phật thảo luận về lời tuyên bố của Nanda là đã đạt được sự tự chủ trong mọi sự việc.
pali_names


93 Đại Đệ Tử Đức Phật

©www.vdpzoom.com