Một hôm, Đức Phật nói với ông: "Thấy thân ô uế của ta là vô ích; Ai thấy Pháp, người đó chính là thấy ta" (yo kho dhammam passati so mam passati; yo mam passati so dhammam passati). Nhưng ngay cả lúc đó Vakkali cũng không rời khỏi Đức Phật. Cho đến ngày cuối mùa mưa, Đức Phật ra lệnh cho ông phải ra đi. Vô cùng đau buồn, Vakkali tìm đến vách núi Gijjhakūta. Đức Phật, biết điều này, hiện ra trước mặt anh ta và đọc một bài kệ; rồi đưa tay ra, nói: "Hãy đến, nhà sư." Tràn ngập niềm vui, Vakkali suy ngẫm về những lời dạy của Đức Phật và chứng ngộ quả vị A-la-hán. Theo Theragāthā Commentary, sau khi Vakkali từ biệt Đức Phật, ông sống ở Gijjhakūta, thực hành thiền định, nhưng không thể đạt được tuệ giác vì bản chất tình cảm (saddhā) của mình. Sau đó, Đức Phật cho ông một bài tập đặc biệt, nhưng ông cũng không thể chứng đạt được. Và vì thiếu ăn, ông bị chuột rút. Đức Phật đến thăm ông và thốt ra một bài kệ để khuyến khích ông. Vakkali dùng bốn bài kệ để đáp lại, và khởi lên tuệ giác, đắc quả A-la-hán. Sau đó, trong hội chúng các tỳ kheo, Đức Phật đã tuyên bố vị ấy đứng đầu trong số những người có chánh tín (saddhādhimuttānam). Trong Pārāyanavagga, Đức Phật được miêu tả là đang giữ Vakkali cho đến Pingiya như một ví dụ về một người đã giành được giải thoát nhờ niềm tin. Bản Tương Ưng Bộ Kinh cung cấp thêm chi tiết và khác ở một số khía cạnh so với phần trên. Ở đó, Vakkali bị ốm khi đang trên đường đến thăm Đức Phật ở Rājagaha, và được khiêng trong một chiếc kiệu đến nhà kho của một người thợ gốm ở Rājagaha. Tại đó, theo yêu cầu của ông, Đức Phật đã đến thăm ông và an ủi ông. Ngài nói với Vakkali đảm bảo với ông rằng ông không có lý do gì để tự trách mình về đạo đức (sīlato); điều lo lắng duy nhất của ông là ông đã không thể nhìn thấy Đức Phật sớm hơn. Đức Phật nói với anh ta rằng nhìn thấy Giáo pháp tương đương với việc nhìn thấy Ngài, và bởi vì Vakkali đã chứng ngộ Giáo pháp, nên sẽ không có kiếp sau. Sau khi Đức Phật ra đi, Vakkali nhờ thị giả đưa mình đến Kālasilā trên đảo Isigili. Đức Phật đang ở Gijjhakūta và được hai vị thiên báo tin rằng Vakkali sắp "được giải thoát". Đức Phật gửi lời đến ông: "Đừng sợ, Vakkali, cái chết của ngươi sẽ không xấu." Vakkali đứng dậy khỏi giường để nhận thông điệp của Đức Phật, và gửi lời đến Đức Phật rằng ông không ham muốn hay yêu mến thân thể hay các uẩn khác, và ông rút dao tự sát. Đức Phật đến xem thân thể của ông, và tuyên bố rằng ông đã đạt được Nibbāna và nỗ lực của Ma vương tìm kiếm tâm thức của Vakkali sẽ là chuyện vô ích. Bản chú giải cho biết thêm rằng Vakkali đã tự phụ và mù quáng trước những lỗi lầm còn lại của mình. Ông nghĩ mình là một khīnāsava, và rằng ông có thể thoát khỏi những đau đớn về thể xác bằng cái chết. Tuy nhiên, vết đâm bằng dao khiến ông đau đớn đến nỗi vào lúc hấp hối, ngài nhận ra trạng thái puthujjana của mình, và nỗ lực hết sức, chứng đắc quả A-la-hán. Quyết tâm trở thành người đứng đầu trong số các saddhādhimuttas của Vakkali đã được thể hiện vào thời Đức Phật Padumuttara, khi ông nhìn thấy một nhà sư cũng tên là Vakkali cũng được Đức Phật tôn vinh tương tự. pali_names Rồi Tôn giả Vakkali gọi các vị thị giả: —Hãy đến, này chư Hiền! Hãy nhắc tôi ra khỏi giường. Làm sao một người như tôi, có thể nghĩ ngồi trên chỗ ngồi cao để nghe Thế Tôn giảng dạy. —Thưa vâng, này Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, nhắc Tôn giả Vakkali ra khỏi giường. —Này Hiền giả, đêm nay, hai vị Thiên, sau khi đêm đã gần tàn … đứng một bên. Ðứng một bên, này Hiền giả, một vị Thiên bạch Thế Tôn: “Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, đang nghĩ đến tự giải thoát”. Vị Thiên kia bạch Thế Tôn: “Vị ấy, bạch Thế Tôn, muốn giải thoát sẽ được khéo giải thoát”. Và Thế Tôn, này Hiền giả Vakkali, nói với Hiền giả như sau: “Chớ có sợ, này Vakkali! Chớ có sợ, này Vakkali! Cái chết của Ông không phải là ác hạnh, sự mệnh chung không phải là ác hạnh!” —Vậy này chư Hiền, hãy nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: “Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bệnh trầm trọng! Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và nói như sau: ‘Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn. Con không có ngờ gì vấn đề này, bạch Thế Tôn! Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Thọ là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Tưởng là vô thường … Các hành là vô thường … Thức là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này.’” —Thưa vâng, này Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali rồi ra đi. Tôn giả Vakkali, khi các Tỷ-kheo ấy đi không bao lâu liền đem lại con dao. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn: —Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và nói như sau: “Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Thọ … Tưởng … Các hành … Thức là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này”. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: —Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến Isigili, chỗ tảng đá đen. Ở đấy, Thiện gia nam tử đem lại con dao. —Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn cùng với số đông Tỷ-kheo đi đến Isigili, chỗ tảng đá đen. Và ở đàng xa, Thế Tôn thấy Tôn giả Vakkali nằm trên giường, với vai co quắp lại. Lúc bấy giờ, một đám khói đen, một luồng ám khí đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía trên, đi về phía dưới, đi về phía bốn góc. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: —Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy đám khói đen ấy, luồng ám khí ấy đi về phía Ðông … đi về phía bốn góc không? —Thưa có, bạch Thế Tôn. —Ðó là Ác ma, này các Tỷ-kheo, đang đi tìm thức của Thiện nam tử Vakkali và nói: “thức của Thiện nam tử Vakkali an trú tại chỗ nào?” Nhưng này các Tỷ-kheo, với thức không an trú tại một chỗ nào, Thiện nam tử Vakkali đã nhập Niết-bàn một cách hoàn toàn! suttacentral.net Chương 22: Tương Ưng Uẩn IV: Phẩm Trưởng Lão | ||||