Bộ Song Đối

Uẩn Song - Phần Định Danh

Phần Xiển Minh - Thuận
Phần Xiển Minh - Nghịch
Phần Câu Lọc Căn Luân - Thuận
Phần Câu Lọc Căn Luân - Nghịch
Phần Thuần Uẩn - Thuận
Phần Thuần Uẩn - Nghịch
Phần Thuần Uẩn - Căn Luân - Thuận
Phần Thuần Uẩn - Căn Luân - Nghịch

Dựa theo Bản giải Siêu-lý trung học (TL Tịnh Sự)


Bộ thứ 6 trong Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma pitaka) Pāli gọi là Yamaka dịch là Song tức là Đôi, nghĩa là bài vấn xuôi và vấn ngược một đôi. Trong mỗi bài vấn có 2 đoạn. Đoạn trước và đoạn sau, cũng thành đôi và có 2 câu Pāli giải nghĩa đặc biệt như vầy:

Yamassa rājassa visayaṃ kamati atikkamati etenati = yamakaṃ:
bộ gọi là Song đây cũng có ý nghĩa cơ quan vượt khỏi phạm vi Diêm Chúa (vì đã phủ nhận chế định).

Yañca taṃ mañca kañcāti = yamakaṃ:
bộ gọi là Song đây, có ý nghĩa cơ quan chứng đến níp-bàn tức là để hiểu siêu lý và đoạn hoài nghi.

Tổng quan về phần Uẩn Song

Pali: Khandhayamaka


Uẩn Song có 3 phần, mỗi phần có nhiều phần phụ, chia thành 2600 bài vấn đáp.




  1. Phần Định Danh (Paṇṇattivāro)

    1. Câu lọc thuận tùng (Padasodhanavāro - anulomaṃ)
    2. Câu lọc đối lập (Padasodhanavāro - paccanīkaṃ)
    3. Câu lọc căn luân thuận tùng (Padasodhanamūlacakkavāro - anulomaṃ)
    4. Câu lọc căn luân đối lập (Padasodhanamūlacakkavāro - paccanīkaṃ)
    5. Thuần uẩn thuận tùng (Suddhakhandhavāro - anulomaṃ)
    6. Thuần uẩn đối lập (Suddhakhandhavāro - paccanīkaṃ)
    7. Thuần uẩn căn luân thuận tùng (Suddhakhandhamūlacakkavāro - anulomaṃ)
    8. Thuần uẩn căn luân đối lập (Suddhakhandhamūlacakkavāro - paccanīkaṃ)

  2. Phần Hành Vi (Pavattivāro)

    Hành Vi →

    ↓ Thời
    1. Sanh
    (uppādavāro)
    2. Diệt
    (nirodhavāro)
    3. Sanh & Diệt
    (uppādanirodhavāro)
    1. Hiện tại
    (paccuppannavāro)
    Thuận
    1. Người (anulomapuggalo)
    2. Cõi (anulomaokāso)
    3. Người & Cõi (anulomapuggalokāsā)

    Nghịch
    1. Người (paccanīkapuggalo)
    2. Cõi (paccanīkaokāso)
    3. Người & Cõi (paccanīkapuggalokāsā)
    (Ka) Vấn Xuôi

    (Kha) Vấn Ngược

    2. Quá khứ
    (atītavāro)
    3. Vị lai
    (anāgatavāro)
    4. Hiện tại - Quá khứ
    (paccuppannātītavāro)
    5. Hiện tại - Vị lai
    (paccuppannānāgatavāro)
    6. Quá khứ - Vị lai
    ( atītānāgatavāro)

  3. Phần Đạt Tri (Pariññāvāro)

    1. Hiện tại thuận tùng (Paccuppannavāro - anuloma)
    2. Hiện tại đối lập (Paccuppannavāro - paccanīkaṃ)
    3. Quá khứ thuận tùng (Atītavāro - anulomaṃ)
    4. Quá khứ đối lập (Atītavāro- paccanīkaṃ)
    5. Vị lai thuận tùng (Anāgatavāro - anulomaṃ)
    6. Vị lai đối lập (Anāgatavāro - paccanīkaṃ)
    7. Hiện tại – quá khứ thuận tùng (Paccuppannātītavāro - anulomaṃ)
    8. Hiện tại – quá khứ đối lập (Paccuppannātītavāro - paccanīkaṃ)
    9. Hiện tại – vị lai thuận tùng (Paccuppannānāgatavāro - anulomaṃ)
    10. Hiện tại – vị lai đối lập (Paccuppannānāgatavāro - paccanīkaṃ)
    11. Quá khứ – vị lai thuận tùng (Atītānāgatavāro - anulomaṃ)
    12. Quá khứ – vị lai đối lập (Atītānāgatavāro - paccanīkaṃ)

Trong bộ Song này phần hỏi có 4 cách, phần đáp thành ra 6 cách, sẽ trình bày đủ cả ngược và xuôi đến 12 kiểu như sau, để nhớ.

Cặp Câu Hỏi4 Vấn Đề6 cách trả lời
1NgượcVấn đề DịĐáp Ngược
2Xuôi
3NgượcVấn đề ĐồngĐáp Bảo Đảm
4Xuôi
5NgượcVấn đề Hoàn BịĐáp kết luận theo Đi Ngay
6Xuôi
7NgượcĐáp kết luận theo Đi Vòng
8Xuôi
9NgượcVấn đề KhôngĐáp Hạn Chế
10Xuôi
11NgượcĐáp Phủ Nhận (bắt bẻ)
12Xuôi


1. VẤN ĐỀ DỊ - ĐÁP NGƯỢC
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi ngược đây:
- Câu mở rằng: Hay là thọ uẩn không từng sanh với cõi nào.
- Câu hỏi rằng: Thời sắc uẩn không từng sanh với cõi ấy phải chăng?
Chi pháp của câu mở là: cõi Vô tưởng.
Chi pháp của câu hỏi: không có.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc về vấn đề dị.
Cho nên, Đức Phật ngài hỏi rằng: Hay là thọ uẩn không từng sanh với cõi nào, thời sắc uẩn không từng sanh với cõi ấy phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài mới đáp trái ngược lại: Đã từng sanh.
Tức là lời đáp phản đối hay trái ngược với câu hỏi.
Bởi vì cõi Vô tưởng là chi pháp của câu mở đó.
Dầu cho thọ uẩn không từng sanh, nhưng sắc uẩn đã từng sanh với cõi ấy.

2. VẤN ĐỀ DỊ - ĐÁP NGƯỢC
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi xuôi đây:
- Câu mở rằng: Sắc uẩn không từng sanh với cõi nào?
- Câu hỏi rằng: Thời thọ uẩn không từng sanh với cõi ấy phải chăng?
Chi pháp của câu mở là: 4 cõi Vô sắc.
Chi pháp của câu hỏi: không có.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc về vấn đề dị.
Cho nên Đức Phật ngài hỏi rằng: Sắc uẩn không từng sanh với cõi nào, thời thọ uẩn không từng sanh với cõi ấy phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài mới đáp trái ngược lại là: Đã từng sanh.
Tức là lời đáp phản đối hay trái ngược với câu hỏi.
Bởi vì 4 cõi Vô sắc là chi pháp của câu hỏi mở đó.
Dầu cho sắc uẩn không từng sanh, nhưng thọ uẩn đã từng sanh với cõi ấy.
54. (Ka) yattha rūpakkhandho nuppajjati tattha vedanākkhandho nuppajjatīti? Uppajjati.
(Kha) yattha vā pana vedanākkhandho nuppajjati tattha rūpakkhandho nuppajjatīti? Uppajjati.

127. Sắc uẩn không từng sanh với cõi nào, thời thọ uẩn không từng sanh với cõi ấy phải chăng? Từng sanh.
Hay là thọ uẩn không từng sanh với cõi nào, thời sắc uẩn không từng sanh với cõi ấy phải chăng? Từng sanh.

Nếu chi pháp câu hỏi không liên hệ với câu mở thì vấn đề thuộc loại vấn đề Dị.
Và lời đáp sẽ trái ngược với câu hỏi.

3. VẤN ĐỀ ĐỒNG - ĐÁP BẢO ĐẢM
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi ngược đây:
- Câu mở rằng: Hay là pháp nào gọi căn thiện.
- Câu hỏi rằng: Những pháp ấy đều là thiện phải chăng?
Chi pháp của câu mở là: 3 căn thiện.
Chi pháp của câu hỏi là: cũng đồng như nhau.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc về vấn đề đồng.
Cho nên Đức Phật ngài hỏi rằng: Hay là pháp nào gọi căn thiện, những pháp ấy đều là thiện phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài mới đáp lại bằng cách bảo đảm là: Phải.
Tức là lời bảo đảm chi pháp của câu mở.
Bởi vì 3 căn thiện là chi pháp của câu mở đó, cũng là thiện vậy.

4. VẤN ĐỀ ĐỒNG - ĐÁP BẢO ĐẢM
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi xuôi đây:
- Câu mở rằng: Mỗi pháp nào là thiện.
- Câu hỏi rằng: Pháp ấy đều có căn đồng nhau với căn thiện phải chăng?
Chi pháp của câu mở là: pháp thiện.
Chi pháp của câu hỏi cũng đồng như nhau.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc vấn đề đồng.
Cho nên Đức Phật ngài hỏi rằng: Mỗi pháp nào là thiện, pháp ấy đều có nương căn đồng nhau với căn thiện phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài mới đáp lại bằng cách bảo đảm là: Phải.
Tức là lời bảo đảm chi pháp của câu mở.
Bởi vì 27 hoặc 37 tâm thiện và 38 sở hữu hợp là chi pháp của câu mở đó, cũng là có căn thiện đồng nhau vậy.
50.(Ka)...
(Kha) ye vā pana kusalamūlā, sabbe te dhammā kusalāti? Āmantā.
51. (Ka) ye keci kusalā dhammā, sabbe te kusalamūlena ekamūlāti? Āmantā.

Hay là căn nào là thiện, những căn ấy đều là pháp thiện phải chăng? Phải rồi.
Mỗi pháp nào là thiện, những pháp ấy đều là căn đồng với căn thiện phải chăng? Phải rồi.

Nếu chi pháp của câu mở và câu hỏi giống nhau thì vấn đề thuộc loại vấn đề Đồng
Và câu trả lời luôn luôn là "Phải rồi."

5. VẤN ĐỀ HOÀN BỊ - ĐÁP KẾT LUẬN GIẢI THÍCH THEO LỐI ĐI NGAY
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi ngược đây:
- Câu mở rằng: Hay là pháp nào có nương căn đồng nhau với căn thiện.
- Câu hỏi rằng: Những pháp ấy đều là thiện phải chăng?
Chi pháp của câu mở là: Pháp thiện và sắc tâm thiện.
Chi pháp của câu hỏi là: chỉ có pháp thiện mà thôi.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc về vấn đề hoàn bị.
Cho nên Đức Phật ngài hỏi rằng: Hay là pháp nào có nương căn đồng nhau với căn thiện, những pháp ấy đều là thiện phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài lấy: sắc tâm thiện là chi pháp của phần câu mở mà thôi.
Mới đáp đoạn trước có ý bác như vầy: sắc do tâm thiện tạo, có nương căn đồng nhau với căn thiện mà phi thiện.
Rồi Ngài lấy: pháp thiện là chi pháp của câu mở và câu hỏi đều đặng cả.
Cho nên Đức Phật ngài đáp đoạn sau không có ý bác như vầy: pháp thiện có nương căn đồng nhau với căn thiện cũng phải và thiện cũng phải.
Lời đáp kết luận của bài hỏi ngược đây là giải thích theo lối đi ngay.
Yevāpana kusalamūlena ekamūlā, sabbe te dhammā kusalāti?
Kusalasamuṭṭhānaṃ rūpaṃ kusalamūlena ekamūlaṃ na kusalaṃ,
kusalaṃ kusalamūlena ekamūlanceva kusalañca.

Hay là pháp nào có nương căn đồng nhau với căn thiện, đều là pháp thiện phải chăng?
Sắc tâm thiện tạo nương căn đồng nhau với căn thiện mà phi thiện.
Còn thiện nương căn đồng nhau với căn thiện cũng phải và thiện cũng phải.

Khi chi pháp câu hỏi là một phần của chi pháp câu mở thì vấn đề thuộc loại Hoàn bị.
Nếu phần dư của câu mở còn ít thì đáp bằng câu bác trước rồi đồng ý theo sau.
Như vậy thì gọi là giải thích theo lối "đi ngay".

6. VẤN ĐỀ HOÀN BỊ - ĐÁP KẾT LUẬN GIẢI THÍCH THEO LỐI ĐI NGAY
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi xuôi đây:
- Câu mở rằng: Sắc.
- Câu hỏi rằng: Gọi là sắc uẩn phải chăng?
Chi pháp của câu mở là: sắc đáng thương, sắc đáng mến tức là tâm hiệp thế, sở hữu hợp và sắc pháp chung lại hợp thành.
Chi pháp của câu hỏi là: 28 sắc pháp.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc về vấn đề hoàn bị.
Cho nên Đức Phật ngài hỏi rằng: Sắc, gọi là sắc uẩn phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài lấy: sắc đáng thương, sắc đáng mến tức là tâm hiệp thế, sở hữu hợp và sắc pháp hợp thành là chi pháp của phần câu mở mà thôi.
Mới đáp đoạn trước có ý bác như vầy: sắc đáng thương, sắc đáng mến cũng gọi là sắc. Nhưng không gọi là sắc uẩn.
Rồi Ngài lấy 28 sắc pháp là chi pháp của câu mở và câu hỏi đều đặng cả.
Cho nên Đức Phật ngài đáp đoạn sau không có ý bác như vầy: còn sắc có chân tướng thật thể gọi là sắc cũng phải và sắc uẩn cũng phải.
Lời đáp kết luận của bài hỏi xuôi đây là cách giải thích theo lối đi ngay.
26. (Ka) rūpaṃ rūpakkhandhoti?
Piyarūpaṃ sātarūpaṃ rūpaṃ, na rūpakkhandho.
Rūpakkhandho rūpañceva rūpakkhandho ca.

Sắc gọi là sắc uẩn phải chăng?
Sắc ái, sắc mãn ý gọi sắc mà không gọi sắc uẩn.
Còn sắc uẩn gọi sắc cũng phải và sắc uẩn cũng phải.

7. VẤN ĐỀ HOÀN BỊ - ĐÁP KẾT LUẬN GIẢI THÍCH THEO LỐI ĐI VÒNG
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi ngược đây:
- Câu mở rằng: Hay là gọi uẩn.
- Câu hỏi rằng: Tức là tưởng uẩn phải chăng?
Chi pháp của câu mở là: 5 uẩn.
Chi pháp của câu hỏi là: chỉ có tưởng uẩn mà thôi.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc về vấn đề hoàn bị.
Cho nên Đức Phật ngài hỏi rằng: Hay là gọi uẩn, tức là tưởng uẩn phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài lấy: sở hữu tưởng là chi pháp của câu mở và câu hỏi đều đặng cả.
Mới đáp đoạn trước không có ý bác như vầy: tưởng uẩn cũng là uẩn.
Rồi Ngài lấy 4 uẩn ngoài ra là chi pháp trong phần câu mở mà thôi.
Cho nên Đức Phật ngài đáp đoạn sau có ý bác như vầy: còn 4 uẩn ngoài ra tưởng uẩn, gọi uẩn mà không gọi tưởng uẩn.
Lời đáp kết luận trong bài hỏi ngược đây là cách giải thích theo lối đi vòng.
(Kha) khandhā saññākkhandhoti?
Saññākkhandho khandho ceva saññākkhandho ca.
Avasesā khandhā na saññākkhandho.

Uẩn, tưởng uẩn phải chăng?
Tưởng uẩn gọi uẩn cũng phải và tưởng uẩn cũng phải,
còn những uẩn ngoài ra đó, gọi uẩn mà không gọi tưởng uẩn.

Nếu phần dư của câu mở còn nhiều thì đáp bằng câu đồng ý trước rồi câu bác theo sau.
Như vậy thì gọi là giải thích theo lối "đi vòng".

8. VẤN ĐỀ HOÀN BỊ - ĐÁP KẾT LUẬN GIẢI THÍCH THEO LỐI ĐI VÒNG
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi xuôi đây:
- Câu mở rằng: Mỗi pháp nào là thiện.
- Câu hỏi rằng: Pháp ấy đều là căn thiện phải chăng?
Chi pháp của câu mở là: pháp thiện.
Chi pháp của câu hỏi là: chỉ có 3 căn thiện mà thôi.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc về vấn đề hoàn bị.
Cho nên Đức Phật ngài hỏi rằng: Mỗi pháp nào là thiện, pháp ấy đều là căn thiện phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài lấy: 3 căn thiện là chi pháp của câu mở và câu hỏi đều đặng cả.
Mới đáp đoạn trước không có ý bác như vầy: căn thiện chỉ có 3.
Rồi Ngài lấy: pháp thiện ngoài ra căn thiện là chi pháp của trong phần câu mở mà thôi.
Cho nên Đức Phật ngài đáp đoạn sau có ý bác như vầy: những pháp thiện ngoài ra căn thiện, phi căn thiện.
Lời đáp kết luận trong bài hỏi xuôi đây là cách giải thích theo lối đi vòng.

9. VẤN ĐỀ KHÔNG - ĐÁP HẠN CHẾ
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi ngược đây:
- Câu mở rằng: Sắc uẩn không từng sanh với người nào?
- Câu hỏi rằng: Thời thọ uẩn không từng sanh với người ấy phải chăng?
Chi pháp của câu mở: không có, thời chi pháp của câu hỏi: cũng không.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc về vấn đề không.
Cho nên Đức Phật ngài hỏi rằng: Hay là sắc uẩn không từng sanh với người nào, thời thọ uẩn không từng sanh với người ấy phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài mới đáp lại bằng cách hạn chế là: không có. Tức là đáp hạn chế với chi pháp của câu mở.
Bởi vì những người mà các đời trước sắc uẩn không từng sanh không có, chỉ có những người sắc uẩn đã từng sanh.

10. VẤN ĐỀ KHÔNG - ĐÁP HẠN CHẾ
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi xuôi đây:
- Câu mở rằng: Thọ uẩn không từng sanh với người nào?
- Câu hỏi rằng: Thời sắc uẩn không từng sanh với người ấy phải chăng?
Chi pháp của câu mở: không có, thời chi pháp của câu hỏi cũng không.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc vấn đề không.
Cho nên Đức Phật ngài hỏi rằng: Thọ uẩn không từng sanh với người nào, thời sắc uẩn không từng sanh với người ấy phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài mới đáp lại bằng cách hạn chế là: không có. Tức là lời đáp hạn chế với chi pháp của câu mở.
Bởi vì người mà các đời trước thọ uẩn không từng sanh không có, chỉ có những người thọ uẩn đã từng sanh.

11. VẤN ĐỀ KHÔNG - ĐÁP BẮT BẺ
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi ngược đây
- Câu mở rằng: Hay là thọ uẩn đang diệt với người nào.
- Câu hỏi rằng: Thời sắc uẩn đang sanh với người ấy phải chăng?
Chi pháp của câu mở là: 4 phàm 4 quả đang tử cõi hữu tâm tức là 19 tâm đang tử, 35 sở hữu hợp và sắc nghiệp diệt khi chót của kiếp sống.
Chi pháp của câu hỏi: không có.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc về vấn đề không.
Cho nên Đức Phật ngài hỏi rằng: Hay là thọ uẩn đang diệt với người nào, thời sắc uẩn đang sanh với người ấy phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài mới đáp lại bằng cách bác bẻ là: không có.
Bởi vì 4 phàm 4 quả đang tử cõi hữu tâm tức là 19 tâm, 35 sở hữu hợp và sắc nghiệp đồng đang diệt lần chót của kiếp sống, là chi pháp của câu mở.
Mặc dù thọ uẩn đang diệt mà sắc uẩn chẳng phải đang sanh với người ấy.

12. VẤN ĐỀ KHÔNG - ĐÁP BẮT BẺ
Chỉ pháp và phân giải trong bài hỏi xuôi đây:
- Câu mở rằng: Sắc uẩn đang sanh với người nào.
- Câu hỏi rằng: Thời thọ uẩn đang diệt với người ấy phải chăng?
Chi pháp của câu mở là: 4 phàm 3 quả hữu học đang tái tục trong cõi ngũ uẩn và bậc vô tưởng đang sanh cõi Vô tưởng, tức là 15 tâm tái tục cõi ngũ uẩn, 35 sở hữu hợp và 19 sắc nghiệp tái tục đặng.
Chi pháp của câu hỏi không có.
Bởi thế lời hỏi đây thuộc về vấn đề không.
Cho nên Đức Phật ngài hỏi rằng: Sắc uẩn đang sanh với người nào, thời thọ uẩn đang diệt với người ấy phải chăng?
Đức Thế Tôn ngài mới đáp lại bằng cách bác bẻ là: không phải.
Bởi vì 4 phàm 3 quả hữu học đang tái tục cõi ngũ uẩn và bậc vô tưởng đang sanh cõi Vô tưởng… là chi pháp của câu mở đó.
Mặc dù sắc uẩn đang sanh mà thọ uẩn chẳng phải đang diệt với người ấy.

© www.tudieu.de