|
→ Phần Danh Siêu Phi Danh Siêu (Bộ Phân Tích)
TÁI SINH
↑ Tính chất của tái sinh, kiết sinh - Paṭisandhi Sau khi cái chết xảy ra theo trình tự đã đề cập ở chương trước, tâm (citta), tâm sở (cetasikas) và sắc pháp (rūpa) sinh khởi lần đầu tiên trong một kiếp sống phù hợp với nghiệp. Các tâm, tâm sở và sắc pháp sinh lần đầu tiên này được gọi là kiết sinh (paṭisandhi) hay tục sinh, theo nghĩa sự kiện nối liền vào lúc chấm dứt kiếp sống cũ. ↑ Bốn loại kiết sinh (Paṭisandhi) Vì lẽ các tâm, tâm sở, và sắc pháp sinh vào sát na kiết sinh này là kết quả của nghiệp (kamma), cho nên tương ứng với các loại nghiệp khác nhau, có bốn loại kiết sinh khác nhau là: Opapātika paṭisandhi - hoá sinh kiết sinh; saṃsedaja-paṭisandhi - thấp sinh kiết sinh; Aṇḍaja-paṭisandhi - noãn sinh kiết sinh; jalabūja-paṭisandhi - thai sinh kiết sinh. 1 . Hoá sinh kiết sinh - sự tái sinh như một chúng sinh đã hoàn chỉnh (opapātika-paṭisandhi): Các vị Chư Thiên (devas), Phạm Thiên (brahmas), các tội nhân ở địa ngục, ngạ quỷ (petas) và atula (asurakāyas) sẽ tái sinh như những chúng sinh đã trưởng thành chứ không phải trải qua các giai đoạn thai nhi và trẻ thơ (như con người). Nói chung họ không phải từ thai bào của người mẹ sinh ra. Ngay khi kiết sinh (paṭisandhi) - tâm, tâm sở, và sắc pháp khởi lên, họ liền xuất hiện ngay tại chỗ ở của họ, đó có thể là các thiên cung, rừng núi, sông suối hay bờ biển, với sự phát triển đầy đủ theo kích cỡ bình thường của họ. Những con người đầu tiên cũng sinh theo cách này khi kiếp của quả đất được tạo lập. Họ bất ngờ mang hình tướng con người mà không cần phải có sự thụ thai trong lòng mẹ. Đây gọi là hoá sinh kiết sinh (opapātika-paṭisandhi). 2 . Thấp sinh kiết sinh (saṃesedaja-paṭisandhi) Một số hữu tình tái sinh trong những nơi ở đây bào thai có thể dính vào được. Những chúng sinh sinh theo loại kiết sinh này phải phát triển dần từ cỡ rất nhỏ. Ấu trùng nở và trưởng thành trong những vật chất hữu cơ hư mục. Hoàng hậu Padumavati được thụ thai trong bông hoa sen, hoàng hậu Veluvati thì trong hốc của một cây tre. Nàng Ciñcamāṇvikā, người đã vu khống đức Phật, sinh trong một cây me. Hầu hết các loài sâu bọ, côn trùng thuộc về loại kiết sinh này, song những ngoại lệ về con người cũng không phải là ít. 3 . Noãn sinh hay sinh bằng trứng (aṇḍaja-paṭisandhi) Những chúng sinh như chim muông, gà vịt, v.v… thụ thai trong trứng là những chúng sinh có loại kiết sinh này. Trong Jātaka (chuyện tiền thân) và trong biên niên sử chúng ta đọc thấy có một số người nam lấy các loài rồng (nāga) cái sinh ra các con cháu là người bằng phương tiện Aṇdaja-paṭisandhi hay noãn sinh này. 4. Thai sinh (jalabūja-paṭisandhi) Loại paṭisandhi này bao gồm con người và các động vật có vú khác. Những chúng sinh này được sinh ra từ thai bào của người mẹ. Cũng có một số chư thiên (devas) trong số những chư thiên hạng thấp như chư thiên ở trên địa cầu hay địa tiên (bhumma-devas) và chư thiên ở trên cội cây (rukkha-devas) mang hình thức thai sinh này. [cả hai loại kiết sanh: noãn (aṇḍaja) và thai (jalabūja) được gọi chung là Gabbhaseyyaka - thai sanh [gabbha: trong bào thai người mẹ + seyyaka: người nằm (trong đó)]. ↑ Ba điều kiện cần thiết cho kiết sinh (paṭisandhi) Những chúng sinh thuộc saṇsedaja - thấp sinh và opapātika - hoá sinh hoàn toàn không có cha mẹ. Họ chỉ do năng lực của nghiệp riêng của họ sinh ra. Đối với các chúng sinh thuộc loại gabbhaseyyaka hay thai sinh, chỉ sinh ra sau khi đã thụ thai trong thai bào người mẹ. Ở đây, vấn đề có thể phát sinh, “sự thụ thai xảy ra như thế nào?” Ba điều kiện cần thiết cho sự thụ thai là: (1) người mẹ tương lai phải vừa mới có kinh nguyệt, (2) phải có sự giao hợp, và (3) đứa trẻ tương lai phải đã chết trong kiếp trước của nó. Sự mang thai thường thường xảy ra trong vòng bảy hay mười lăm ngày sau khi giao hợp giữa cha mẹ. ↑ Một vài trường hợp kỳ lạ Mặc dù không có sự giao hợp giữa cha mẹ, song trong một vài trường hợp kỳ lạ vẫn có thể có sự mang thai. Đức Bồ tát Suvaṇṇasāṃa mang kiết sinh (paṭisandhi) trong bào thai người mẹ khi cha ngài dùng tay vuốt vào rốn bà ngay sau thời kỳ kinh nguyệt. Mẹ của Đức Vua Caṇdapajjota cảm thấy vui thích (nhục dục)và mang thai khi một con rết bò ngang bụng bà ngay sau thời kỳ kinh nguyệt. Loài cò hay vạc cảm thấy vui thú khi những ngọn gió nồm thổi về vào đầu mùa mưa, và mang thai từ đó. Vào thời Đức Phật, một vị Tỳ Khưu ni mang thai khi nuốt tinh dịch vấy trên lá y của vị sư là chồng cũ của bà. Sau khi uống nước tiểu có chứa tinh dịch của một đạo sĩ, một con nai cái đã mang thai và sinh ra một đứa con trai tên Isisinga. Đấy là những trường hợp mang thai kỳ lạ khác thường. Kalala - chất lỏng trong suốt Cùng với tâm và tâm sở kiết sinh, những sắc chất nhỏ li ti cũng phát sinh. Những sắc chất này gọi là “Kalala” hay chất lỏng trong suốt - (theo từ điển Pāḷi - Hán thì đó là noãn hoàng). Chất lỏng trong suốt này mang hình thức của một giọt nhỏ cỡ giọt dầu ăn tí xíu dính trên đầu sợi tóc của cô gái xứ Bắc Culôchâu (có lẽ muốn nói là rất nhỏ). Giọt Kalala (ngay ở giai đoạn đầu của sự hình thành thai bào) này do nghiệp lực quá khứ tạo. Nó không phải là tinh dịch mà cũng chẳng phải là noãn châu của cha mẹ, những yếu tố đó vốn chỉ là tác nhân hỗ trợ cho Kalala hay chất lỏng trong suốt do nghiệp sinh này mà thôi. Sự hỗ trợ của tinh dịch và noãn châu Một giọt Kalala do nghiệp quá khứ của đứa bé tạo, nhưng tự nó không thể làm cho sự thụ thai xảy ra mà phải có sự hỗ trợ chính yếu của tinh dịch và noãn châu của cha mẹ. Giọt kalala cũng như hạt giống: tinh dịch và noãn châu tựa như đất ẩm; nghiệp quá khứ là người nông dân. Bởi thế một buồng trứng (noãn châu) và tinh dịch khoẻ mạnh rất là cần yếu. Nếu không thì bào thai chẳng thể phát triển thành một thai nhi lành mạnh được. Các loài bò sát, đặc biệt là kỳ đà, sống trong các hang bằng đất đỏ sẽ có màu đỏ và những con sống trong hang bằng đất đen sẽ có màu đen. Cũng theo cách ấy, thai nhi thừa hưởng những đặc tính di truyền của cha mẹ truyền qua tinh dịch và noãn châu để được phát triển đầy đủ; vì vậy mới có sự giống nhau giữa con cái và cha mẹ. Ngay cả những trạng thái tâm lý, nhân cách, kể cả trí thông minh cũng có thể được cha mẹ chuyển sang đứa bé. Sự tương tự hay giống nhau này là do tính di truyền (truyền di những sắc chất do thời tiết (utu) sanh và do tâm tạo điều kiện) trong suốt giai đoạn mang thai. Một lý do khác nữa là đứa trẻ, được nuôi nấng trong môi trường gia đình, cố gắng bắt chước cách cư xử, thái độ tâm lý và phong cách của cha mẹ. Vì thế những đứa trẻ tốt, có lễ phép thường do những gia đình có đạo đức sinh ra, trong khi những đứa trẻ hư đốn xuất thân từ những gia đình truỵ lạc và đồi bại. Do đó, cả cha lẫn mẹ cần phải thuộc về dòng giõi đạo đức để cho đứa trẻ trở thành một con người xứng đáng. Giọt kalala (chất lỏng trong suốt) vốn được cấy trong tinh dịch và noãn châu hoàn toàn lành mạnh sẽ cho ra đứa con tốt nhất. ↑ Bốn Loại Người 1. Người khổ vô nhân (Duggati Ahetuka Puggala) Có số người mang kiết sinh (paṭisandhi) trong những cõi bất hạnh, buồn khổ gọi là ác thú (apāya). Những người như vậy gọi là Duggati Ahetuka Puggala - người khổ vô nhân (tức người ở trong những cõi khổ không có các nhân vô tham (alobha), vô sân (adosa) và vô si (amoha) kèm theo tâm tái sinh của họ). Người vô nhân này cũng có thể thấy trong cõi nhân loại và những cõi Chư Thiên thấp kém nữa, họ được gọi là người lạc vô nhân (sugati ahetuka puggala: người sống trong các cõi lành nhưng không có các nhân vô tham, vô sân và vô si đi kèm theo tâm tái sinh của họ). 2.a Người lạc vô nhân (suggati Ahetuka) Trong đời này có số người sinh ra với tâm tục sinh lạc vô nhân (sugati ahetuka - paṭisandhi-citta: tâm tục sinh của những người trong cõi vui không kèm theo các nhân vô tham, vô sân, và vô si). Những người này có thiện nghiệp rất yếu, do đó phải bị đui mù, câm điếc hoặc khờ khạo bẩm sinh. Có số không có giới tính bẩm sinh; và có số là người bán nam bán nữ. 2.b Chư Thiên lạc vô nhân Do thiện nghiệp yếu, có số dù tái sinh là Chư Thiên nhưng với tâm tục sinh lạc vô nhân (sugati ahetuka - paṭisandhi citta) nên không có quyền lực và cũng không có chỗ ở xứng đáng. Họ phải tìm đến nương náu gần thiên cung của những vị Chư Thiên cao hơn như Chư Thiên ở trên địa cầu (bhumma-devas) hoặc Chư Thiên ở trên cây (rukkha-deva), họ không bao giờ được ăn uống tử tế và hầu như phải sống nhờ vào những đồ ăn thừa mà người ta đem quăng bỏ. Đôi khi họ hù doạ phụ nữ và trẻ con để “moi” thực phẩm từ họ và sống nhờ vào vật thực do những người này cúng để làm cho họ nguôi giận (một kiểu hối lộ). Những chư thiên bất hạnh này sống rất khốn khổ dù họ thuộc cõi Tứ Đại Thiên Vương (catumahārajaka). Cũng như có những người thông minh trong số những người nghèo khổ, ở đây cũng thế, trong số những vị Chư Thiên bất hạnh có thể có những vị không phải vô nhân (ahetuka) mà là người nhị nhân (dvihetuka) hoặc tam nhân (tihetuka) như sẽ được giải thích dưới đây. Một số vị Chư Thiên bất hạnh được biết đã thành tựu Đạo (Magga) và Quả (Phala) trong thời kỳ Đức Phật của chúng ta. 3. Người nhị nhân (Dvihetuka) Trong phần nói về bố thí (dāna) chúng tôi đã giải thích chi tiết về thiện nhị nhân cao thượng hay thù thắng (dvihetuka-ukkattha-kusala) và thiện tam nhân hạ liệt (tihetuka-omaka-kusala) rồi. Có số người được tái sinh làm người hoặc Chư Thiên nhờ thiện nghiệp của họ. Song vì họ đã làm những việc thiện này không có vô si (amoha) đi kèm, hoặc cho dù có vô si (amoha) thì việc thiện ấy cũng được làm với cetanā hay thiện ý yếu ớt, hoặc thậm chí cetanā có sắc bén chăng nữa, vẫn có chút hối tiếc đối với thiện sự đó, nên họ chỉ có hai nhân vô tham và vô sân trong tâm tục sinh (paṭisandhi citta) của họ. Chính vì thế họ trở thành người nhị nhân. Hai loại người vô nhân (ahetuka puggalas) đã nói ở trên và người nhị nhân (dvihetuka puggala) này có paṭisandhi (kiết sinh) rất yếu ớt vì thế họ không có cơ hội để đắc thiền (jhāna), hay Đạo Quả (magga - phala) trong kiếp hiện tại. Song nếu họ hành thiền, việc thực hành đó sẽ là một nhân tốt giúp họ trở thành người tam nhân (tihetuka) trong tương lai; và họ sẽ đạt đến thiền hoặc Đạo Quả dễ dàng vì đã có kinh nghiệm về thiền trong quá khứ. Bởi thế, cho dù không thể đắc thiền hay Đạo Quả trong kiếp hiện tại, những người này cũng nên lo cố gắng hành thiền trong đời này đi. 4. Người tam nhân (Tihetuka) Do tâm thiện tam nhân cao thượng (tihetuka-ukakattha kusala citta), người ta có thể tái sinh vào cõi nhân loại hoặc vào cõi Chư thiên, như một người tam nhân - tức người thông minh và có trí tuệ có thể thành tựu thiền nếu cố gắng thực hành. Họ cũng có thể đắc các Đạo và Quả nếu họ đã hoàn tất các pháp balamật (pārami). Ngày nay chúng ta có thể thấy đa số là người tam nhân. Chỉ có lười biếng và thiếu giới luật mới ngăn không cho họ trở thành các bậc thánh mà thôi. Như vậy, do khác nhau về tâm tục sinh (paṭisandhi citta), nên mới có bốn loại người: khổ vô nhân, lạc vô nhân, nhị nhân, và tam nhân như vừa kể. ↑ Tám loại Thánh nhân Hạng người tam nhân, do hành thiền và nếu như đắc Tu-đà-hoàn-đạo (Sotāpatthi-magga) sẽ trở thành người sơ đạo hay người Tu-đà-hoàn-đạo. Cũng vậy, nếu như đắc Tu-đà-hoàn-quả (Sotāpatthi-phala) họ trở thành người sơ quả hay người Tu-đà-hoàn-quả. Khi họ thành tựu cao hơn, họ lần lượt trở thành: - Người nhị đạo hay người Tư-đà-hàm-đạo (Sakadāgāmī-magga) - Người nhị quả hay người Tư-đà-hàm-quả (Sakadāgāmī-phala) - Người tam đạo hay người A-na-hàm-đạo (Anāgāmī-magga) - Người tam quả hay người A-na-hàm-quả (Anāgāmī-phala) - Người tứ đạo hay người A-la-hán-đạo (Arahatta-magga) - Người tứ quả hay người A-la-hán-quả (Arahatta-phala) Loại người thứ tám được gọi là bậc Alahán. Các vị Độc giác Phật (Paccekabuddhas) và Toàn giác Phật (Buddhas) cũng là các bậc Alahán song với trí tuệ thù thắng hơn. ↑ Nghiệp là cha mẹ đích thực của chúng ta Nghiệp riêng của mỗi người sẽ quyết định tâm tục sinh (paṭisandhi-citta) của họ và như vậy cũng quyết định luôn số phận của họ. Nghiệp quyết định kiếp kế tiếp của chúng ta không chỉ khác nhau ở kiết sinh ban đầu, mà còn cả ở ngoại hình, thân phận của cha mẹ, tình trạng giàu sang, v.v… Chúng ta hãy so sánh hai người, một đã hết sức cố gắng làm điều thiện với trí thông minh của mình trong khi ngưòi kia thì không, hoặc nếu có làm thì cũng làm rất miễn cưỡng. Khi cả hai chết và được tái sinh trong cõi nhân loại này, người trước sẽ thụ thai trong bào thai của người mẹ giàu có, biết chăm sóc thai nhi đúng cách. Người sau sẽ thụ thai trong thai bào của người mẹ nghèo hèn, không biết cách làm thế nào để chăm sóc thai nhi. Vì thế ngay cả vào lúc người mẹ mang thai, đã có sự khác biệt rất lớn giữa hai đứa trẻ. Vào lúc sinh ra cũng vậy, đứa trẻ đầu sẽ được sinh ra một cách thoải mái, trong khi đứa kia với nhiều đau đớn và gian nan. Sau khi sinh, sự khác biệt càng ngày càng rõ rệt hơn và theo thời gian, sự chênh lệch còn lớn hơn nữa. Đứa trẻ nhà giàu được nuôi dưỡng kỹ lưỡng và được ăn học đến nơi đến chốn. Trong khi đứa trẻ nhà nghèo sẽ phải chịu cảnh ngược lại. Nói chung, đứa trẻ đầu sẽ sống một cuộc sống phong lưu, được cha mẹ, ông bà, và họ hàng thân tộc chăm sóc và yêu mến, trong khi đứa kia sẽ phải nhọc nhằn phấn đấu để sống còn. ↑ Kết luận Như vừa đề cập ở trên, nghiệp (kamma) mà ta đã làm trong quá khứ có ảnh hưởng rất lớn đối với số phận của chúng ta ngay từ giai đoạn đầu của sự thụ thai. Biết được những quả khác nhau của nghiệp là như vậy, chúng ta không nên trách cứ người khác sao chỉ thiên vị người giàu sang và có thế lực. Thực ra, chính vận may thiên vị người giàu đấy thôi. Vì thế, bạn chỉ nên tự trách sự vô minh và những ác nghiệp của bạn, đồng thời hãy cố gắng hết sức mình để trở thành người thành đạt và giới đức qua việc thực hiện các thiện sự. Chỉ biết ganh tỵ hay đố kỵ người giàu mà không tự mình nỗ lực thì thực là ngớ ngẩn vô ích. Ganh tỵ và đố kỵ sẽ chỉ kéo bạn vào vực sâu của khổ đau để gặp bất hạnh nhiều hơn nữa trong các kiếp sống tương lai mà thôi. |
| Cõi Dục | Cõi Sắc | Cõi Vô Sắc | Cõi Vô Tưởng | |
| Uẩn | 5 (Sắc Thọ Tưởng Hành Thức) | 5 | 4 (trừ Sắc) | 1 (Sắc) |
| Xứ | 11 (12 – thinh) | 5 xứ: nhãn xứ sắc xứ nhĩ xứ ý xứ pháp xứ | 2 xứ: ý xứ pháp xứ | 2 xứ: sắc xứ pháp xứ |
| 10 (12 – thinh, nhãn) | ||||
| 10 (12 – thinh, nhĩ) | ||||
| 9 (12 – thinh, nhãn, nhĩ) | ||||
| 7 (thai sanh) | ||||
| Giới | 11 (18 – 6 – thinh) | 5 giới: nhãn giới sắc giới nhĩ giới ý giới pháp giới | 2 giới: ý thức giới pháp giới | 2 giới: sắc giới pháp giới |
| 10 (18 – 6 – thinh, nhãn) | ||||
| 10 (18 – 6 – thinh, nhĩ) | ||||
| 9 (18 – 6 – thinh, nhãn, nhĩ) | ||||
| Đế | 1 (Khổ) | 1 (Khổ) | 1 (Khổ) | 1 (Khổ) |
| Quyền | 14 (chư thiên hợp trí) | 10 quyền: nhãn quyền nhĩ quyền ý quyền mạng quyền hỷ / xả quyền tín quyền cần quyền niệm quyền định quyền tuệ quyền | 8 quyền: ý quyền mạng quyền xả quyền tín quyền cần quyền niệm quyền định quyền tuệ quyền | 1 quyền: sắc mạng quyền |
| 13 (chư thiên ly trí) | ||||
| 13 (nhân loại hợp trí) | ||||
| 12 (nhân loại ly trí) | ||||
| 10 (thai sanh hợp trí) | ||||
| 9 (thai sanh ly trí) | ||||
| 9 (hóa sanh cõi đọa) | ||||
| 8 (hóa sanh cõi đọa - đui) | ||||
| 8 (hóa sanh cõi đọa - điếc) | ||||
| 7 (hóa sanh cõi đọa - đui điếc) | ||||
| 5 (thai sanh) | ||||
| 4 (thai sanh vô nhân phi nam nữ) | ||||
| Nhân | Tam nhân (vô tham, vô sân, vô si) | Tam nhân | Tam nhân | Không có |
| Nhị nhân (vô tham, vô sân) | ||||
| Vô nhân | ||||
| Thực | 4 (Đoàn Xúc Tư Thức) | 3 (Xúc Tư Thức) | 3 (Xúc Tư Thức) | |
| Xúc | 1 ý thức giới xúc | 1 ý thức giới xúc | 1 ý thức giới xúc | |
| Thọ | 1 ý thức giới | 1 ý thức giới | 1 ý thức giới | |
| Tưởng | 1 ý thức giới | 1 ý thức giới | 1 ý thức giới | |
| Tư | 1 ý thức giới | 1 ý thức giới | 1 ý thức giới | |
| Tâm | 1 ý thức giới | 1 ý thức giới | 1 ý thức giới |
| Pāḷi Vibhaṅga - 18. Dhammahadayavibhaṅgo | Tiếng Việt Bộ Phân Tích - 18. Pháp Tâm Phân Tích |
|---|---|
| Kāmadhātu | Dục giới |
| 1007. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kati khandhā pātubhavanti…pe… kati cittāni pātubhavanti? | 1095. Dục giới phát sanh bao nhiêu uẩn? ... hiện bày bao nhiêu tâm? |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe sabbesaṃ pañcakkhandhā pātubhavanti; | Trong Dục giới mỗi loại chúng sanh phát sanh cả 5 uẩn. |
| kassaci ekādasāyatanāni pātubhavanti; kassaci dasāyatanāni pātubhavanti; kassaci aparāni dasāyatanāni pātubhavanti; kassaci navāyatanāni pātubhavanti; kassaci sattāyatanāni pātubhavanti; | Cũng có loại phát sanh 11 xứ, cũng có loại phát sanh 10 xứ, cũng có loại phát sanh 10 xứ (khác), cũng có loại phát sanh 9 xứ, cũng có loại phát sanh 7 xứ. |
| kassaci ekādasa dhātuyo pātubhavanti; kassaci dasa dhātuyo pātubhavanti; kassaci aparā dasa dhātuyo pātubhavanti; kassaci nava dhātuyo pātubhavanti; kassaci satta dhātuyo pātubhavanti; | Cũng có loại phát sanh 11 giới, cũng có loại phát sanh 10 giới, cũng có loại phát sanh 10 giới (khác), cũng có loại phát sanh 9 giới. |
| sabbesaṃ ekaṃ saccaṃ pātubhavati; | Nhất đế phát sanh cho đủ loại chúng sanh. |
| kassaci cuddasindriyāni pātubhavanti; kassaci terasindriyāni pātubhavanti; kassaci aparāni terasindriyāni pātubhavanti; kassaci dvādasindriyāni pātubhavanti; kassaci dasindriyāni pātubhavanti; kassaci navindriyāni pātubhavanti; kassaci aparāni navindriyāni pātubhavanti; kassaci aṭṭhindriyāni pātubhavanti; kassaci aparāni aṭṭhindriyāni pātubhavanti; kassaci sattindriyāni pātubhavanti; kassaci pañcindriyāni pātubhavanti; kassaci cattārindriyāni pātubhavanti; | Cũng có loại phát sanh 14 quyền, cũng có loại phát sanh 13 quyền, cũng có loại phát sanh 13 quyền (khác), cũng có loại phát sanh 12 quyền, cũng có loại phát sanh 10 quyền, cũng có loại phát sanh 9 quyền, cũng có loại phát sanh chín quyền (khác), cũng có loại phát sanh 8 quyền, cũng có loại phát sanh 8 quyền (khác), cũng có loại phát sanh 7 quyền, cũng có loại phát sanh 5 quyền, cũng có loại phát sanh 4 quyền. |
| kassaci tayo hetū pātubhavanti; kassaci dve hetū pātubhavanti; kassaci ahetukā pātubhavanti; | Cũng có loại phát sanh tam nhân, cũng có loại phát sanh nhị nhân, cũng có loại phát sanh vô nhân. |
| sabbesaṃ cattāro āhārā pātubhavanti; | Tứ thực phát sanh cho tất cả loại chúng sanh. |
| sabbesaṃ eko phasso pātubhavati; | Nhất xúc phát sanh cho tất cả loại chúng sanh. |
| sabbesaṃ ekā vedanā… ekā saññā… ekā cetanā… ekaṃ cittaṃ pātubhavati. | Nhất thọ, nhất tưởng, nhất tư, nhất tâm phát sanh cho tất cả loại chúng sanh. |
| 1008. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe sabbesaṃ katame pañcakkhandhā pātubhavanti? Rūpakkhandho…pe… viññāṇakkhandho – kāmadhātuyā upapattikkhaṇe sabbesaṃ ime pañcakkhandhā pātubhavanti. | 1096. Trong sát-na sơ sanh Dục giới, ngũ uẩn phát sanh cho các loại chúng sanh nào? Như là sắc uẩn… thức uẩn. Trong sát-na sơ sanh Dục giới ngũ uẩn đều phát sanh cho mỗi loại hữu tình. |
| 1009. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa ekādasāyatanāni pātubhavanti? Kāmāvacarānaṃ devānaṃ, paṭhamakappikānaṃ manussānaṃ, opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ, nerayikānaṃ paripuṇṇāyatanānaṃ upapattikkhaṇe ekādasāyatanāni pātubhavanti – cakkhāyatanaṃ, rūpāyatanaṃ, sotāyatanaṃ, ghānāyatanaṃ, gandhāyatanaṃ, jivhāyatanaṃ, rasāyatanaṃ, kāyāyatanaṃ, phoṭṭhabbāyatanaṃ, manāyatanaṃ, dhammāyatanaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni ekādasāyatanāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh 11 xứ phát hiện cho loại hữu tình nào? Khi 11 xứ phát sanh như là nhãn xứ, sắc xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, khí xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ và pháp xứ vẫn phát sanh hiện bày cho đến Chư thiên Dục giới, nhân loại thuở kiếp ban sơ, Ngạ quỷ, A-tu-la, Bàng sanh, Địa ngục và chúng sanh hóa sanh mới có xứ đầy đủ. Trong Dục giới đang khi phát sanh những 11 xứ vẫn sanh hiện bày với những chúng sanh ấy. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa dasāyatanāni pātubhavanti? Opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ nerayikānaṃ, jaccandhānaṃ upapattikkhaṇe dasāyatanāni pātubhavanti – rūpāyatanaṃ, sotāyatanaṃ, ghānāyatanaṃ, gandhāyatanaṃ, jivhāyatanaṃ, rasāyatanaṃ , kāyāyatanaṃ, phoṭṭhabbāyatanaṃ, manāyatanaṃ, dhammāyatanaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni dasāyatanāni pātubhavanti. | Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh mười xứ phát hiện cho loại chúng sanh nào? Như là khi sơ sanh mười xứ như là nhãn xứ, sắc xứ, tỷ xứ, khí xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ và pháp xứ vẫn phát sanh hiện bày cho Ngạ quỷ, địa A-tu-la, Bàng sanh, Địa ngục mà hóa sanh đui từ khi sanh. Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh mười xứ như thế vẫn phát sanh hiện bày cho những chúng sanh ấy. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa aparāni dasāyatanāni pātubhavanti? Opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ nerayikānaṃ, jaccabadhirānaṃ upapattikkhaṇe dasāyatanāni pātubhavanti – cakkhāyatanaṃ, rūpāyatanaṃ, ghānāyatanaṃ, gandhāyatanaṃ, jivhāyatanaṃ, rasāyatanaṃ, kāyāyatanaṃ, phoṭṭhabbāyatanaṃ, manāyatanaṃ, dhammāyatanaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni dasāyatanāni pātubhavanti. | Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh mười xứ (khác nữa) vẫn hiện bày cho chúng sanh loại nào? Khi sát-na sơ sanh mười xứ như là nhãn xứ, sắc xứ, tỷ xứ, khí xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ và pháp xứ vẫn hiện bày cho Ngạ quỷ, địa A-tu-la, Bàng sanh và Địa ngục mà hóa sanh điếc từ khi sơ sanh. Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh những mười xứ ấy vẫn hiện bày cho những chúng sanh ấy. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa navāyatanāni pātubhavanti? Opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ nerayikānaṃ, jaccandhabadhirānaṃ upapattikkhaṇe navāyatanāni pātubhavanti – rūpāyatanaṃ, ghānāyatanaṃ, gandhāyatanaṃ, jivhāyatanaṃ, rasāyatanaṃ, kāyāyatanaṃ, phoṭṭhabbāyatanaṃ, manāyatanaṃ, dhammāyatanaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni navāyatanāni pātubhavanti. | Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh, chín xứ vẫn phát sanh cho chúng sanh loại nào? Khi sát-na sơ sanh chín xứ như là sắc xứ, tỷ xứ, khí xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ và pháp xứ vẫn hiện bày cho Ngạ quỷ, A-tu-la, Bàng sanh và Địa ngục mà thứ hóa sanh đui và điếc từ sơ sanh. Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh những chín xứ ấy vẫn hiện bày cho những chúng sanh ấy. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa sattāyatanāni pātubhavanti? Gabbhaseyyakānaṃ sattānaṃ upapattikkhaṇe sattāyatanāni pātubhavanti – rūpāyatanaṃ, gandhāyatanaṃ, rasāyatanaṃ, kāyāyatanaṃ, phoṭṭhabbāyatanaṃ, manāyatanaṃ, dhammāyatanaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni sattāyatanāni pātubhavanti. | Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh bảy xứ vẫn hiện bày cho chúng sanh loại nào? Khi sát-na sơ sanh bảy xứ như là sắc xứ, khí xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ và pháp xứ vẫn hiện bày cho loại thai sanh. Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh bảy xứ ấy vẫn phát hiện cho những loại ấy. |
| 1010. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa ekādasa dhātuyo pātubhavanti? Kāmāvacarānaṃ devānaṃ, paṭhamakappikānaṃ manussānaṃ, opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ nerayikānaṃ paripuṇṇāyatanānaṃ upapattikkhaṇe ekādasa dhātuyo pātubhavanti – cakkhudhātu, rūpadhātu, sotadhātu, ghānadhātu, gandhadhātu, jivhādhātu, rasadhātu, kāyadhātu, phoṭṭhabbadhātu, manoviññāṇadhātu, dhammadhātu. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imā ekādasa dhātuyo pātubhavanti. | Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh 11 giới phát sanh cho chúng sanh loại nào? Khi sát-na sơ sanh 11 giới như là nhãn giới, sắc giới, nhĩ giới, tỷ giới, khí giới, thiệt giới, vị giới, thân giới, xúc giới, ý thức giới và pháp giới vẫn hiện bày cho Chư thiên Dục giới, nhân loại khởi thủy, Ngạ quỷ, A-tu-la, Bàng sanh, Địa ngục. Những hạng hóa sanh có đầy đủ giới trong Dục giới khi sát-na sơ sanh những 11 giới ấy vẫn phát hiện cho những chúng sanh đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa dasa dhātuyo pātubhavanti? Opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ nerayikānaṃ , jaccandhānaṃ upapattikkhaṇe dasa dhātuyo pātubhavanti – rūpadhātu, sotadhātu, ghānadhātu, gandhadhātu, jivhādhātu, rasadhātu, kāyadhātu, phoṭṭhabbadhātu, manoviññāṇadhātu, dhammadhātu. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imā dasa dhātuyo pātubhavanti. | Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh mười giới vẫn phát sanh cho loại nào? 10 giới trong sát-na sơ sanh như là sắc giới, nhĩ giới, tỷ giới, khí giới, thiệt giới, vị giới, thân giới, xúc giới, ý thức giới và pháp giới phát sanh cho Ngạ quỷ, A-tu-la, Bàng sanh, Địa ngục, những thứ hóa sanh mà đui từ khi sơ sanh. Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh mười giới ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa aparā dasa dhātuyo pātubhavanti? Opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ nerayikānaṃ, jaccabadhirānaṃ upapattikkhaṇe dasa dhātuyo pātubhavanti – cakkhudhātu, rūpadhātu, ghānadhātu, gandhadhātu, jivhādhātu, rasadhātu, kāyadhātu, phoṭṭhabbadhātu, manoviññāṇadhātu, dhammadhātu. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imā dasa dhātuyo pātubhavanti. | Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh mười giới (khác nữa) phát sanh cho những chúng sanh loại nào? 10 giới (nữa) phát sanh trong sát-na sơ sanh như là nhãn giới, sắc giới, tỷ giới, khí giới, thiệt giới, vị giới, thân giới, xúc giới, ý thức giới và pháp giới phát sanh cho Ngạ quỷ, A-tu-la, Bàng sanh, Địa ngục những loại hóa sanh mà điếc từ sơ sanh. Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh mười giới đó vẫn phát sanh cho những chúng sanh ấy. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa nava dhātuyo pātubhavanti? Opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ nerayikānaṃ, jaccandhabadhirānaṃ upapattikkhaṇe nava dhātuyo pātubhavanti – rūpadhātu, ghānadhātu, gandhadhātu, jivhādhātu, rasadhātu, kāyadhātu, phoṭṭhabbadhātu, manoviññāṇadhātu, dhammadhātu. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imā nava dhātuyo pātubhavanti. | Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh chín giới vẫn phát sanh cho chúng sanh loại nào? Trong sát-na sơ sanh chín giới như là Sắc giới, tỷ giới, khí giới, thiệt giới, vị giới, thân giới, xúc giới, ý thức giới và pháp giới phát sanh cho Ngạ quỷ, A-tu-la, Bàng sanh, Địa ngục, những thứ hóa sanh đui và điếc từ sơ sanh. Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh những chín giới ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa satta dhātuyo pātubhavanti? Gabbhaseyyakānaṃ sattānaṃ upapattikkhaṇe satta dhātuyo pātubhavanti – rūpadhātu, gandhadhātu, rasadhātu, kāyadhātu, phoṭṭhabbadhātu, manoviññāṇadhātu, dhammadhātu. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imā satta dhātuyo pātubhavanti. | Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh bảy giới vẫn phát sanh cho loại hữu tình nào? 7 giới trong khi sát-na sơ sanh như là sắc giới, khí giới, vị giới, thân giới, xúc giới, ý thức giới và pháp giới phát sanh cho loại thai sanh. Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh những bảy giới nầy vẫn phát sanh cho những chúng sanh ấy. |
| 1011. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe sabbesaṃ katamaṃ ekaṃ saccaṃ pātubhavati? Dukkhasaccaṃ – kāmadhātuyā upapattikkhaṇe sabbesaṃ idaṃ ekaṃ saccaṃ pātubhavati. | Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh một đế nào phát sanh cho mỗi loại chúng sanh? Tức là khổ đế. Trong Dục giới khi sát-na một đế ấy vẫn phát hiện cho những chúng sanh đó. |
| 1012. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa cuddasindriyāni pātubhavanti? Kāmāvacarānaṃ devānaṃ, sahetukānaṃ ñāṇasampayuttānaṃ upapattikkhaṇe cuddasindriyāni pātubhavanti – cakkhundriyaṃ, sotindriyaṃ, ghānindriyaṃ, jivhindriyaṃ, kāyindriyaṃ , manindriyaṃ, itthindriyaṃ vā purisindriyaṃ vā, jīvitindriyaṃ, somanassindriyaṃ vā upekkhindriyaṃ vā, saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ, paññindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni cuddasindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh mười bốn quyền vẫn phát hiện cho chúng sanh loại nào? Sát na sơ sanh mười bốn quyền như là nhãn quyền, nhĩ quyền, tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền, ý quyền, nam quyền (hoặc nữ quyền), mạng quyền, hỷ hoặc xả quyền, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền phát sanh cho Chư thiên Dục giới bực thành hữu nhân tương ưng trí. Trong Dục giới khi sát-na sơ sanh những mười bốn quyền ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa terasindriyāni pātubhavanti? Kāmāvacarānaṃ devānaṃ sahetukānaṃ ñāṇavippayuttānaṃ upapattikkhaṇe terasindriyāni pātubhavanti – cakkhundriyaṃ, sotindriyaṃ, ghānindriyaṃ, jivhindriyaṃ, kāyindriyaṃ, manindriyaṃ, itthindriyaṃ vā purisindriyaṃ vā, jīvitindriyaṃ, somanassindriyaṃ vā upekkhindriyaṃ vā, saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni terasindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh mười ba quyền phát sanh cho chúng sanh loại nào? Sát na sơ sanh mười ba quyền như là nhãn quyền, nhĩ quyền, tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền, ý quyền, nam hoặc nữ quyền, mạng quyền, hỷ hoặc xả quyền, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, phát hiện cho Chư thiên Dục giới bực hữu nhân bất tương ưng trí. Trong sát-na sơ sanh những mười ba quyền ấy vẫn hiện bày cho những chúng sanh ấy. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa aparāni terasindriyāni pātubhavanti? Paṭhamakappikānaṃ manussānaṃ sahetukānaṃ ñāṇasampayuttānaṃ upapattikkhaṇe terasindriyāni pātubhavanti – cakkhundriyaṃ, sotindriyaṃ, ghānindriyaṃ, jivhindriyaṃ, kāyindriyaṃ, manindriyaṃ, jīvitindriyaṃ, somanassindriyaṃ vā upekkhindriyaṃ vā, saddhindriyaṃ , vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ, paññindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni terasindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh mười ba quyền (khác nữa) phát sanh cho chúng sanh loại nào? Mười ba quyền khi sát-na sơ sanh như là nhãn quyền, nhĩ quyền, tỷ quyền, mạng quyền, thân quyền, ý quyền, hỷ hoặc xả quyền, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, tuệ quyền vẫn phát hiện cho nhân loại thuở sơ kiếp bực thành hữu nhân tương ưng trí. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh những mười ba quyền ấy vẫn phát hiện cho những chúng sanh đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa dvādasindriyāni pātubhavanti? Paṭhamakappikānaṃ manussānaṃ sahetukānaṃ ñāṇavippayuttānaṃ upapattikkhaṇe dvādasindriyāni pātubhavanti – cakkhundriyaṃ, sotindriyaṃ, ghānindriyaṃ, jivhindriyaṃ, kāyindriyaṃ, manindriyaṃ, jīvitindriyaṃ, somanassindriyaṃ vā upekkhindriyaṃ vā, saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni dvādasindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh, mười hai quyền vẫn phát sanh cho loại hữu tình nào? Mười hai quyền trong sát-na sơ sanh như là nhãn quyền, nhĩ quyền, tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền, ý quyền, mạng quyền, hỷ hoặc xả quyền, tín quyền, cần quyền, niệm quyền và định quyền vẫn phát sanh cho nhân loại thuở sơ kiếp bực thành hữu nhân bất tương ưng trí. Trong sát-na sơ sanh những mười hai quyền ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa dasindriyāni pātubhavanti? Gabbhaseyyakānaṃ sattānaṃ sahetukānaṃ ñāṇasampayuttānaṃ upapattikkhaṇe dasindriyāni pātubhavanti – kāyindriyaṃ, manindriyaṃ, itthindriyaṃ vā purisindriyaṃ vā, jīvitindriyaṃ, somanassindriyaṃ vā upekkhindriyaṃ vā, saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ, paññindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni dasindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh, mười quyền vẫn phát sanh cho loại hữu tình nào? Mười quyền trong sát-na sơ sanh như là thân quyền, ý quyền, nam hoặc nữ quyền, mạng quyền, hỷ hoặc xả quyền, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền và tuệ quyền vẫn phát sanh cho loại thai sanh bực thành hữu nhân tương ưng trí. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh những mười quyền ấy vẫn phát sanh cho chúng sanh loại đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa navindriyāni pātubhavanti? Gabbhaseyyakānaṃ sattānaṃ sahetukānaṃ ñāṇavippayuttānaṃ upapattikkhaṇe navindriyāni pātubhavanti – kāyindriyaṃ, manindriyaṃ, itthindriyaṃ vā purisindriyaṃ vā, jīvitindriyaṃ, somanassindriyaṃ vā upekkhindriyaṃ vā, saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni navindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh, chín quyền vẫn phát sanh cho chúng sanh loại nào? Chín quyền trong sát-na sơ sanh như là thân quyền, ý quyền, nam hoặc nữ quyền, mạng quyền, hỷ hoặc xả quyền, tín quyền, cần quyền, niệm quyền và định quyền phát sanh cho loại thai sanh bực thành hữu nhân tương ưng trí. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh những chín quyền ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa aparāni navindriyāni pātubhavanti? Opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ nerayikānaṃ paripuṇṇāyatanānaṃ upapattikkhaṇe navindriyāni pātubhavanti – cakkhundriyaṃ, sotindriyaṃ, ghānindriyaṃ, jivhindriyaṃ, kāyindriyaṃ, manindriyaṃ, itthindriyaṃ vā purisindriyaṃ vā, jīvitindriyaṃ , upekkhindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni navindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh, chín quyền (khác nữa) vẫn phát sanh cho những chúng sanh loại nào? Chín quyền khác nữa trong sát-na sơ sanh như là nhãn quyền, nhĩ quyền, tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền, ý quyền, nam hoặc nữ quyền, mạng quyền, xả quyền vẫn phát sanh cho Ngạ quỷ, A-tu-la, Bàng sanh, Địa ngục, loại hóa sanh mới có xứ đầy đủ. Trong Dục giới sát sanh sơ sanh những chín quyền ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa aṭṭhindriyāni pātubhavanti? Opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ nerayikānaṃ, jaccandhānaṃ upapattikkhaṇe aṭṭhindriyāni pātubhavanti – sotindriyaṃ, ghānindriyaṃ, jivhindriyaṃ, kāyindriyaṃ, manindriyaṃ, itthindriyaṃ vā purisindriyaṃ vā, jīvitindriyaṃ, upekkhindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni aṭṭhindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh tám quyền vẫn phát sanh cho chúng sanh loại nào? Tám quyền trong sát-na sơ sanh như là nhĩ quyền, tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền, ý quyền, nam hoặc nữ quyền, mạng quyền, xả quyền, vẫn phát sanh cho Ngạ quỷ, A-tula, Bàng sanh, Địa ngục, loại hóa sanh mà đui từ khi sơ sanh. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh những tám quyền ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh ấy. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa aparāni aṭṭhindriyāni pātubhavanti? Opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ nerayikānaṃ, jaccabadhirānaṃ upapattikkhaṇe aṭṭhindriyāni pātubhavanti – cakkhundriyaṃ, ghānindriyaṃ, jivhindriyaṃ, kāyindriyaṃ manindriyaṃ, itthindriyaṃ vā purisindriyaṃ vā, jīvitindriyaṃ, upekkhindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni aṭṭhindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh tám quyền (khác nữa) vẫn phát sanh cho chúng sanh loại nào? Tám quyền khác nữa trong sát-na sơ sanh như là nhãn quyền, tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền, nam hoặc nữ quyền, mạng quyền, xả quyền vẫn phát sanh cho Ngạ quỷ, A-tu-la, Bàng sanh, Địa ngục, các loại hóa sanh mà tai điếc từ lúc sơ sanh. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh những tám quyền ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh ấy. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa sattindriyāni pātubhavanti? Opapātikānaṃ petānaṃ, opapātikānaṃ asurānaṃ, opapātikānaṃ tiracchānagatānaṃ nerayikānaṃ, jaccandhabadhirānaṃ upapattikkhaṇe sattindriyāni pātubhavanti – ghānindriyaṃ , jivhindriyaṃ, kāyindriyaṃ, manindriyaṃ, itthindriyaṃ vā purisindriyaṃ vā, jīvitindriyaṃ, upekkhindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni sattindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh bảy quyền vẫn phát sanh cho chúng sanh loại nào? Bảy quyền trong sát-na sơ sanh như là tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền, ý quyền, nam hoặc nữ quyền, mạng quyền, xả quyền, phát hiện cho Ngạ quỷ, A-tu-la, Bàng sanh, Địa ngục thuộc loại hóa sanh mà đui, điếc từ lúc sơ sanh. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh những bảy quyền ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa pañcindriyāni pātubhavanti? Gabbhaseyyakānaṃ sattānaṃ ahetukānaṃ, ṭhapetvā napuṃsakānaṃ, upapattikkhaṇe pañcindriyāni pātubhavanti – kāyindriyaṃ, manindriyaṃ, itthindriyaṃ vā purisindriyaṃ vā, jīvitindriyaṃ, upekkhindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni pañcindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh năm quyền vẫn phát sanh cho chúng sanh loại nào? Năm quyền trong sát-na sơ sanh như là thân quyền, ý quyền, nam hoặc nữ quyền, mạng quyền, xả quyền, vẫn phát sanh cho loại thai sanh. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh những năm quyền ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa cattārindriyāni pātubhavanti? Gabbhaseyyakānaṃ sattānaṃ ahetukānaṃ, napuṃsakānaṃ upapattikkhaṇe cattārindriyāni pātubhavanti – kāyindriyaṃ, manindriyaṃ, jīvitindriyaṃ , upekkhindriyaṃ. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ imāni cattārindriyāni pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh bốn quyền vẫn phát sanh cho chúng sanh loại nào? Bốn quyền trong sát-na sơ sanh như là thân quyền, ý quyền, mạng quyền, xả quyền phát sanh cho loại thai sanh hạng thành vô nhân phi nam nữ. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh những bốn quyền ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh đó. |
| 1013. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa tayo hetū pātubhavanti? Kāmāvacarānaṃ devānaṃ, paṭhamakappikānaṃ manussānaṃ, gabbhaseyyakānaṃ sattānaṃ sahetukānaṃ ñāṇasampayuttānaṃ upapattikkhaṇe tayo hetū pātubhavanti – alobho vipākahetu, adoso vipākahetu, amoho vipākahetu. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ ime tayo hetū pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh ba nhân phát sanh cho chúng sanh loại nào? Ba nhân trong sát-na sơ sanh như là vô tham thuộc dị thục quả, vô sân thuộc dị thục quả và vô si thuộc dị thục quả đặng phát sanh cho Chư thiên Dục giới, nhân loại thuở kiếp ban sơ, loại hóa sanh bực thành hữu nhân tương ưng trí. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh những ba nhân ấy vẫn phát sanh cho những chúng sanh đó. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe kassa dve hetū pātubhavanti? Kāmāvacarānaṃ devānaṃ, paṭhamakappikānaṃ manussānaṃ, gabbhaseyyakānaṃ sattānaṃ sahetukānaṃ ñāṇavippayuttānaṃ upapattikkhaṇe dve hetū pātubhavanti – alobho vipākahetu, adoso vipākahetu. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe etesaṃ ime dve hetū pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh hai nhân vẫn phát sanh cho chúng sanh loại nào? Hai nhân trong sát-na sơ sanh như là nhân vô tham thuộc dị thục quả, nhân vô sân thuộc dị thục quả vẫn phát sanh cho Chư thiên Dục giới, nhân loại thuở sơ kiếp loại hóa sanh bực thành hữu nhân tương ưng trí. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh những hai nhân ấy vẫn phát hiện cho những chúng sanh đó. |
| Avasesānaṃ sattānaṃ ahetukā pātubhavanti. | Dị thục quả vô nhân vẫn phát sanh cho những loại chúng sanh ngoài ra như đã nói. |
| 1014. Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe sabbesaṃ katame cattāro āhārā pātubhavanti. Kabaḷīkāro āhāro, phassāhāro, manosañcetanāhāro, viññāṇāhāro – kāmadhātuyā upapattikkhaṇe sabbesaṃ ime cattāro āhārā pātubhavanti. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh tứ thực mà thứ nào đặng phát sanh cho mỗi loại chúng sanh? Như là đoàn thực, xúc thực, tư thực và thức thực. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh những tứ thực ấy vẫn phát sanh cho mỗi loại chúng sanh. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe sabbesaṃ katamo eko phasso pātubhavati? Manoviññāṇadhātusamphasso – kāmadhātuyā upapattikkhaṇe sabbesaṃ ayaṃ eko phasso pātubhavati. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh nhất xúc nào vẫn phát sanh cho chúng sanh mỗi loại? Tức là ý thức giới xúc. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh nhất xúc ấy vẫn phát sanh cho chúng sanh mỗi loại. |
| Kāmadhātuyā upapattikkhaṇe sabbesaṃ katamā ekā vedanā … ekā saññā… ekā cetanā… ekaṃ cittaṃ pātubhavati? Manoviññāṇadhātu – kāmadhātuyā upapattikkhaṇe sabbesaṃ idaṃ ekaṃ cittaṃ pātubhavati. | Trong Dục giới, sát-na sơ sanh nhất thọ, nhất tưởng, nhất tư, nhất tâm thứ nào vẫn phát sanh cho mỗi loại chúng sanh? Tức là ý thức giới. Trong Dục giới, sát-na sơ sanh nhất tâm (ekacitta) ấy vẫn phát hiện cho chúng sanh mỗi loại. |
| Rūpadhātu | Sắc giới |
| 1015. Rūpadhātuyā upapattikkhaṇe kati khandhā pātubhavanti…pe… kati cittāni pātubhavanti? | 1097. Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh mấy uẩn đặng phát sanh… mấy tâm đặng phát sanh? |
| Rūpadhātuyā upapattikkhaṇe, ṭhapetvā asaññasattānaṃ devānaṃ, pañcakkhandhā pātubhavanti, pañcāyatanāni pātubhavanti, pañca dhātuyo pātubhavanti, ekaṃ saccaṃ pātubhavati, dasindriyāni pātubhavanti, tayo hetū pātubhavanti, tayo āhārā pātubhavanti, eko phasso pātubhavati, ekā vedanā… ekā saññā… ekā cetanā… ekaṃ cittaṃ pātubhavati. | Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh ngũ uẩn, ngũ xứ, ngũ giới, nhất đế, thập quyền, tam nhân, tam thực, nhất xúc, nhất thọ, nhất tưởng, nhất tư và nhất tâm vẫn phát sanh cho tất cả Phạm thiên chỉ trừ bực vô tưởng. |
| 1016. Rūpadhātuyā upapattikkhaṇe katame pañcakkhandhā pātubhavanti ? Rūpakkhandho, vedanākkhandho, saññākkhandho, saṅkhārakkhandho, viññāṇakkhandho – rūpadhātuyā upapattikkhaṇe ime pañcakkhandhā pātubhavanti. | 1098. Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh ngũ uẩn phần nào vẫn phát sanh? Như là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh những năm uẩn ấy vẫn phát sanh. |
| Rūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamāni pañcāyatanāni pātubhavanti? Cakkhāyatanaṃ, rūpāyatanaṃ, sotāyatanaṃ, manāyatanaṃ, dhammāyatanaṃ – rūpadhātuyā upapattikkhaṇe imāni pañcāyatanāni pātubhavanti. | Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh ngũ xứ phần nào vẫn hiện bày? Như là nhãn xứ, sắc xứ, nhĩ xứ, ý xứ và pháp xứ. Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh những ngũ xứ ấy vẫn phát sanh. |
| Rūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamā pañca dhātuyo pātubhavanti? Cakkhudhātu, rūpadhātu, sotadhātu, manoviññāṇadhātu, dhammadhātu – rūpadhātuyā upapattikkhaṇe imā pañca dhātuyo pātubhavanti. | Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh, năm giới phần nào vẫn hiện bày? Như là nhãn giới, sắc giới, nhĩ giới, ý thức giới và pháp giới. Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh, những năm giới ấy vẫn hiện bày. |
| Rūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamaṃ ekaṃ saccaṃ pātubhavati? Dukkhasaccaṃ – rūpadhātuyā upapattikkhaṇe idaṃ ekaṃ saccaṃ pātubhavati. | Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh nhất đế thứ nào vẫn phát hiện? Tức là khổ đế. Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh một đế nầy vẫn phát hiện. |
| Rūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamāni dasindriyāni pātubhavanti? Cakkhundriyaṃ, sotindriyaṃ, manindriyaṃ, jīvitindriyaṃ, somanassindriyaṃ vā upekkhindriyaṃ vā, saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ , satindriyaṃ, samādhindriyaṃ, paññindriyaṃ – rūpadhātuyā upapattikkhaṇe imāni dasindriyāni pātubhavanti. | Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh thập quyền phần nào phát sanh? Như là nhãn quyền, nhĩ quyền, ý quyền, mạng quyền, hỷ hoặc xả quyền, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền và tuệ quyền. Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh, những mười quyền ấy vẫn hiện bày. |
| Rūpadhātuyā upapattikkhaṇe katame tayo hetū pātubhavanti? Alobho vipākahetu, adoso vipākahetu, amoho vipākahetu – rūpadhātuyā upapattikkhaṇe ime tayo hetū pātubhavanti. | Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh tam nhân phần nào vẫn hiện bày? Như là nhân vô tham thành dị thục quả, nhân vô sân thành dị thục quả và nhân vô si thành dị thục quả. Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh những ba nhân ấy vẫn hiện bày. |
| Rūpadhātuyā upapattikkhaṇe katame tayo āhārā pātubhavanti? Phassāhāro, manosañcetanāhāro, viññāṇāhāro – rūpadhātuyā upapattikkhaṇe ime tayo āhārā pātubhavanti. | Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh tam thực phần nào đặng phát sanh? Như là xúc thực, tư thực và thức thực. Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh những tam thực ấy vẫn hiện bày. |
| Rūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamo eko phasso pātubhavati? Manoviññāṇadhātusamphasso – rūpadhātuyā upapattikkhaṇe ayaṃ eko phasso pātubhavati. | Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh nhất xúc thứ nào đặng phát hiện? Tức là ý thức giới xúc. Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh chỉ có một xúc ấy đặng phát hiện. |
| Rūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamā ekā vedanā… ekā saññā… ekā cetanā… ekaṃ cittaṃ pātubhavati? Manoviññāṇadhātu – rūpadhātuyā upapattikkhaṇe idaṃ ekaṃ cittaṃ pātubhavati. | Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh nhất thọ, nhất tưởng, nhất tư và nhất tâm thứ nào đặng phát sanh? Tức là ý thức giới. Trong Sắc giới, sát-na sơ sanh chỉ có một tâm ấy vẫn phát hiện. |
| 3. Asaññasattā | Vô Tưởng |
| 1017. Asaññasattānaṃ devānaṃ upapattikkhaṇe kati khandhā pātubhavanti…pe… kati cittāni pātubhavanti? | 1099. Trong sát-na sơ sanh bao nhiêu uẩn đặng phát sanh… bao nhiêu tâm đặng phát sanh với bực Chư thiên vô tưởng? |
| Asaññasattānaṃ devānaṃ upapattikkhaṇe eko khandho pātubhavati – rūpakkhandho; dve āyatanāni pātubhavanti – rūpāyatanaṃ, dhammāyatanaṃ; dve dhātuyo pātubhavanti – rūpadhātu, dhammadhātu; ekaṃ saccaṃ pātubhavati – dukkhasaccaṃ; ekindriyaṃ pātubhavati – rūpajīvitindriyaṃ. Asaññasattā devā ahetukā anāhārā aphassakā avedanakā asaññakā acetanakā acittakā pātubhavanti. | Trong sát-na sơ sanh nhất uẩn tức là sắc uẩn vẫn phát sanh cho phần bực Chư thiên vô tưởng. Nhị xứ tức là sắc xứ và pháp xứ vẫn phát hiện. Nhị giới tức là sắc giới và pháp giới vẫn phát hiện. Nhất đế tức là khổ đế vẫn phát hiện. Nhất quyền tức là sắc mạng quyền vẫn phát hiện. Bực Chư thiên vô tưởng không có nhân, không có vật thực, không có xúc, không có thọ, không có tưởng, không có tư, cũng không có tâm phát sanh. |
| Arūpadhātu | Vô Sắc giới |
| 1018. Arūpadhātuyā upapattikkhaṇe kati khandhā pātubhavanti…pe… kati cittāni pātubhavanti? | 1100. Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh bao nhiêu uẩn… và bao nhiêu tâm đặng phát sanh? |
| Arūpadhātuyā upapattikkhaṇe cattāro khandhā pātubhavanti, dve āyatanāni pātubhavanti, dve dhātuyo pātubhavanti, ekaṃ saccaṃ pātubhavati, aṭṭhindriyāni pātubhavanti, tayo hetū pātubhavanti, tayo āhārā pātubhavanti, eko phasso pātubhavati, ekā vedanā… ekā saññā… ekā cetanā… ekaṃ cittaṃ pātubhavati. | Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh đặng bốn uẩn vẫn phát sanh. Nhị giới vẫn phát hiện, nhất đế vẫn phát hiện, bát quyền vẫn phát hiện, tam nhân vẫn phát hiện, tam thực vẫn phát hiện, nhất xúc vẫn phát hiện, nhất thọ, nhất tưởng, nhất tư, nhất tâm vẫn phát sanh. |
| 1019. Arūpadhātuyā upapattikkhaṇe katame cattāro khandhā pātubhavanti? Vedanākkhandho, saññākkhandho, saṅkhārakkhandho, viññāṇakkhandho – arūpadhātuyā upapattikkhaṇe ime cattāro khandhā pātubhavanti. | 1101. Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh bốn uẩn mà phần nào đặng phát sanh? Như là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh những bốn uẩn ấy vẫn phát sanh. |
| Arūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamāni dve āyatanāni pātubhavanti? Manāyatanaṃ, dhammāyatanaṃ – arūpadhātuyā upapattikkhaṇe imāni dve āyatanāni pātubhavanti. | Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh nhị xứ phần nào đặng phát sanh? Như là ý xứ và pháp xứ. Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh hai xứ nầy vẫn phát hiện. |
| Arūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamā dve dhātuyo pātubhavanti? Manoviññāṇadhātu, dhammadhātu – arūpadhātuyā upapattikkhaṇe imā dve dhātuyo pātubhavanti. | Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh Nhị giới phần nào đặng phát sanh? Tức là ý thức giới và pháp giới. Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh những hai giới ấy vẫn phát hiện. |
| Arūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamaṃ ekaṃ saccaṃ pātubhavati? Dukkhasaccaṃ – arūpadhātuyā upapattikkhaṇe idaṃ ekaṃ saccaṃ pātubhavati. | Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh nhất đế thứ nào đặng phát sanh? Tức là khổ đế. Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh một đế ấy vẫn phát sanh. |
| Arūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamāni aṭṭhindriyāni pātubhavanti? Manindriyaṃ, jīvitindriyaṃ, upekkhindriyaṃ, saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ, paññindriyaṃ – arūpadhātuyā upapattikkhaṇe imāni aṭṭhindriyāni pātubhavanti. | Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh tám quyền phần nào đặng phát sanh? Như là ý quyền, mạng quyền, xả quyền, tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền và tuệ quyền. Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh những tám quyền ấy vẫn hiện bày. |
| Arūpadhātuyā upapattikkhaṇe katame tayo hetū pātubhavanti? Alobho vipākahetu, adoso vipākahetu, amoho vipākahetu – arūpadhātuyā upapattikkhaṇe ime tayo hetū pātubhavanti. | Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh ba nhân phần nào đặng phát sanh? Như là nhân vô tham thành dị thục quả, nhân vô sân thành dị thục quả và nhân vô si cũng thành dị thục quả. Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh những ba nhân ấy vẫn hiện bày. |
| Arūpadhātuyā upapattikkhaṇe katame tayo āhārā pātubhavanti? Phassāhāro, manosañcetanāhāro, viññāṇāhāro – arūpadhātuyā upapattikkhaṇe ime tayo āhārā pātubhavanti. | Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh ba thực phần nào đặng phát sanh? Như là xúc thực, tư thực và thức thực. Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh những ba thực ấy vẫn hiện bày. |
| Arūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamo eko phasso pātubhavati? Manoviññāṇadhātusamphasso – arūpadhātuyā upapattikkhaṇe ayaṃ eko phasso pātubhavati. | Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh nhất xúc thứ nào đặng phát sanh? Như là ý thức giới xúc. Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh một xúc nầy vẫn hiện bày. |
| Arūpadhātuyā upapattikkhaṇe katamā ekā vedanā…pe… ekā saññā… ekā cetanā… ekaṃ cittaṃ pātubhavati? Manoviññāṇadhātu – arūpadhātuyā upapattikkhaṇe idaṃ ekaṃ cittaṃ pātubhavati. | Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh nhất thọ, nhất tưởng, nhất tư và nhất tâm thứ nào đặng hiện bày? Như là ý thức giới. Trong Vô sắc giới, sát-na sơ sanh một tâm ấy vẫn hiện bày. |